Giải trí

7 vị tướng quân đội chính thức được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Đây là danh hiệu cao quý, thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với những cống hiến và hy sinh to lớn của các vị tướng lĩnh qua các thời kỳ chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vừa qua, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) cho các cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Buổi lễ diễn ra trong không khí tôn nghiêm, là dịp để Đảng, Nhà nước và Quân đội bày tỏ sự tri ân sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh to lớn của các vị tướng lĩnh qua các thời kỳ chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

screenshot-2026-02-11-194135.png
Hình ảnh tại buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Ảnh: Quân khu 7

Trong đợt này, có 7 vị tướng lĩnh vinh dự được phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý này, bao gồm:

Thiếu tướng Võ Minh Như

Thiếu tướng Võ Minh Như sinh năm 1926 tại xã Bảo Ninh, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Trong quá trình công tác, ông từng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như Phó Tư lệnh Quân khu 7, Tư lệnh Sư đoàn 5 thuộc Bộ Tư lệnh Miền.

Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông sớm vào Nam mưu sinh và được giác ngộ cách mạng. Ngày 23/09/1945, ông cùng thanh niên tiến bộ rời Sài Gòn ra Biên Hòa gia nhập Thanh niên Tiền phong và Vệ quốc đoàn. Đến ngày 08/10/1945, sau khóa huấn luyện ngắn, ông trở thành Trung đội trưởng Trung đội 7, Đại đội C tại huyện Long Thành (cũ), tỉnh Đồng Nai.

Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tích cực vận động và phát triển Đảng trong lực lượng công nhân cao su và nhân dân địa phương, giúp củng cố sức mạnh cho Vệ quốc đoàn Long Thành.

Thiếu tướng Võ Minh Như (bên trái) và con trai
Thiếu tướng Võ Minh Như (bên trái) và con trai

Sau khi tốt nghiệp Trường Bổ túc cán bộ Nam Bộ năm 1951, với cương vị Đại đội trưởng Đại đội 65, Tiểu đoàn 303 Thủ Biên, ông đã trực tiếp chỉ huy trận tập kích Yếu khu Trảng Bom, khai thông hành lang giao liên căn cứ. Từ cuối năm 1951 đến 1954, ông giữ chức Tiểu đoàn phó tại các Tiểu đoàn 309 Mỹ Tho và 306 Gia Định - Ninh, tham gia nhiều trận chống càn và phục kích tại miền Đông Nam Bộ.

Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, ông tập kết ra Bắc. Từ năm 1961, ông nhận nhiệm vụ đào tạo và đưa cán bộ quân sự vào lại miền Nam. Giai đoạn sau đó, ông nắm giữ nhiều vị trí chỉ huy tại Quân khu 9 và miền Đông Nam Bộ. Đầu năm 1968, ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 5. Từ năm 1969 đến 1971, ông làm Hiệu trưởng Trường Quân chính Trung - Cao cấp Miền. Tiếp đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Tư lệnh phó, Tư lệnh các mặt trận, Phó Tư lệnh và Tham mưu trưởng Quân khu 7.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1984 và nghỉ hưu năm 1990. Trở về đời thường, ông tiếp tục đóng góp cho Hội Cựu chiến binh TP.HCM và được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.

Trung tướng Lê Nam Phong

Trung tướng Lê Nam Phong (tên thật là Lê Hoàng Thống), sinh năm 1927 tại Nghệ An. Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2 và Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7.

Là cán bộ tiền khởi nghĩa, ông sớm dấn thân vào con đường cách mạng. Năm 1954, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, với cương vị Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn 88, ông đã trực tiếp chỉ huy đơn vị bám trụ chiến hào, tấn công tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập - một vị trí then chốt của địch, góp phần vào thắng lợi lẫy lừng của chiến dịch.

Trung tướng Lê Nam Phong
Trung tướng Lê Nam Phong

Trong kháng chiến chống Mỹ, trên cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, ông cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ huy quân dân chốt chặn kiên cường suốt 150 ngày đêm tại khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng. Sau đó, ông trực tiếp chỉ huy phá vỡ “cánh cửa thép” Xuân Lộc - tuyến phòng thủ quan trọng phía Đông Sài Gòn. Chiến thắng này đã mở toang đường cho quân chủ lực tiến về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên cương vị chỉ huy, ông để lại dấu ấn trong tổ chức và điều hành tác chiến tại các chiến trường trọng điểm.

Trung tướng Lưu Phước Lượng

Trung tướng Lưu Phước Lượng sinh năm 1948 tại tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc TP.HCM). Ông từng giữ các chức vụ Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 9. Những ngày đầu binh nghiệp, ông là Tiểu đội trưởng, Đài trưởng K63 Thông tin miền B2.

Tham gia cách mạng từ tháng 06/1965 tại Chiến khu Đ và vào Đảng ngày 05/10/1967, ông từng tham gia vận chuyển hàng chiến lược trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Năm 1967, tại trận đánh với Lữ đoàn dù 173 (Mỹ) ở Kà Tum, ông trực tiếp tiêu diệt 5 tên địch và được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Trung tướng Lưu Phước Lượng
Trung tướng Lưu Phước Lượng

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đòng chí Trung tướng Lưu Phước Lượng phục vụ tại Bộ Chỉ huy tiền phương Miền, sau đó chiến đấu tại trại Cổ Loa, Phù Đổng (Gò Vấp). Dù bị thương tại Bót Hàng Keo (Gia Định) trong đợt 2 chiến dịch, ông vẫn kiên cường bám trụ và được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Sau khi đào tạo tại Học viện Chính trị - Quân sự, ông trở về làm Trợ lý cho Tư lệnh Nguyễn Thới Bưng tại Mặt trận 979 (biên giới Campuchia - Thái Lan). Tiếp đó, ông có 8 năm gắn bó với Sư đoàn 5 trên các cương vị Phó Chủ nhiệm Chính trị, Bí thư Đảng ủy, Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị.

Từ năm 1995 đến 2006, ông lần lượt giữ chức Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4, sau đó là Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 9, trước khi điều động về Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và nghỉ hưu vào năm 2011.

Trung tướng Lê Thành Tâm

Trung tướng Lê Thành Tâm sinh năm 1942 tại xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay là TP. Cần Thơ). Ông nguyên là Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 7, Phó Sư đoàn trưởng Chính trị Sư đoàn 5, và Chính trị viên Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4).

Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống (cha là chiến sĩ Vệ quốc đoàn, nhiều người thân hy sinh trong kháng chiến), ông tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi với vai trò giao liên. Trong 45 năm quân ngũ, dù là thương binh hạng 4, ông đã đi qua những chiến trường khốc liệt nhất, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ cao cấp.

Trung tướng Lê Thành Tâm
Trung tướng Lê Thành Tâm

Dù trong nước hay khi làm nhiệm vụ quốc tế, ông luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp lớn vào việc xây dựng LLVT và củng cố an ninh quốc phòng trên địa bàn Quân khu 7.

Những năm tháng cống hiến cho cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước, đồng chí Lê Thành Tâm được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Ba; 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; 3 Huân chương giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Hữu nghị Campuchia hạng Nhất; Huân chương Hữu nghị Lào hạng Nhất; 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ (78 tuổi) quê tại xã Châu Ninh, huyện Khoái Châu (cũ), tỉnh Hưng Yên. Ông nguyên là Tham mưu trưởng Quân khu 7, từng là Đại đội trưởng Đại đội 25, Trung đoàn 88, Sư đoàn 302.

Nhập ngũ năm 17 tuổi, sau khi huấn luyện tại Quân khu 3, ông hành quân vào chiến trường miền Nam, thuộc biên chế Trung đoàn 88, Sư đoàn 5. Ông đã trực tiếp chiến đấu từ Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ, tham gia hàng trăm trận đánh, bao gồm cả Chiến dịch Hồ Chí Minh và cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ
Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ

Trong suốt sự nghiệp, ông bị thương 11 lần với tỷ lệ thương tật 61% nhưng chưa bao giờ rời bỏ hàng ngũ. Sau năm 1975, ông tiếp tục cống hiến cho Quân khu 7, đặc biệt là trong vai trò Tham mưu trưởng. Nghỉ hưu năm 2007, ông vẫn tích cực tham gia hoạt động xã hội với cương vị Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc, Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba cùng nhiều danh hiệu, phần thưởng khác.

Trung tướng Bùi Thanh Vân

Trung tướng Bùi Thanh Vân (sinh năm 1927 tại An Tịnh, Tây Ninh), nguyên Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5.

Xuất thân là công nhân đồn điền cao su Bến Cát, ông sớm giác ngộ cách mạng qua các phong trào đấu tranh công đoàn. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông gia nhập LLVT Nam Bộ và vào Đảng năm 1948. Ông đã kinh qua nhiều cấp bậc chỉ huy, tham gia các chiến dịch lớn: Bến Cát (1950), Mậu Thân (1968), Nguyễn Huệ (1972) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).

Trung tướng Bùi Thanh Vân
Trung tướng Bùi Thanh Vân

Đồng chí từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh, rồi Tư lệnh Quân khu 7 (1989-1994). Ông được phong Thiếu tướng năm 1980 và Trung tướng năm 1988. Với gần 50 năm quân ngũ, ông nổi tiếng là người chỉ huy quyết đoán, kỷ luật nhưng luôn chăm lo cho đời sống chiến sĩ. Ông từ trần tháng 08/1994 khi đang tại chức Tư lệnh Quân khu 7.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng quê tại xã An Tịnh, Tây Ninh. Ông nguyên là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân khu 7 và Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tham mưu miền B2.

Ý chí cách mạng của ông được hun đúc từ thời thiếu niên khi chứng kiến thực dân Pháp xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ. Tháng 07/1945, ông tổ chức lực lượng Thanh niên Tiền phong giành chính quyền tại quê nhà. Khi Pháp quay lại, ông gia nhập LLVT, tham gia Hội thề Rừng Rong và chiến đấu tại Mặt trận Suối Sâu.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng
Trung tướng Nguyễn Thới Bưng (bên phải) và con trai là Trung tướng Nguyễn Châu Thanh

Trong kháng chiến chống Pháp, ông giữ chức Đại đội trưởng và vào Đảng năm 1947. Sau thời gian tập kết ra Bắc công tác tại Bộ Tổng Tham mưu, ông trở lại miền Nam năm 1966. Trên cương vị Tư lệnh Sư đoàn 9, ông đã chỉ huy đơn vị bẻ gãy nhiều cuộc hành quân lớn của địch tại miền Đông.

Năm 1975, ông là cán bộ chủ chốt tại cơ quan tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau thống nhất, ông đảm nhiệm các chức vụ: Tư lệnh Quân khu 7, Quân khu 9, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được phong Trung tướng năm 1988 và nghỉ hưu năm 1999.

Bảo Lam - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư