Chứng khoán

Bộ Công Thương gỡ 'nút thắt' lớn nhất cho các dự án điện khí LNG tỷ USD

Việc điều chỉnh cơ chế Qc không chỉ tăng mức đảm bảo doanh thu mà còn mở ra khả năng thu xếp vốn quốc tế cho các dự án điện khí LNG vốn phụ thuộc lớn vào tín dụng dài hạn.

Bộ Công Thương vừa công bố báo cáo tổng hợp, tiếp thu và giải trình ý kiến góp ý đối với dự thảo sửa đổi Khoản 4 Điều 15 Nghị định 56/2025/NĐ-CP – văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực liên quan đến quy hoạch, đầu tư và đấu thầu các dự án điện lực.

Nội dung nhận được nhiều sự quan tâm nhất là cơ chế xác định “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí LNG nhập khẩu. Theo đề xuất mới, tỷ lệ Qc sẽ được nâng từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời thời gian áp dụng được kéo dài từ tối đa 10 năm lên 15 năm.

Dù chỉ là một thông số trong hợp đồng mua bán điện, Qc lại có ý nghĩa rất lớn đối với khả năng huy động vốn của dự án. Với cơ chế này, phần sản lượng điện tương ứng với Qc sẽ được bên mua điện cam kết thanh toán theo hợp đồng dài hạn, giúp nhà đầu tư duy trì dòng tiền ổn định để trả nợ vay và đảm bảo hiệu quả tài chính.

Đây cũng là “nút thắt” lớn nhất của nhiều dự án điện khí LNG tại Việt Nam hiện nay. Các dự án loại này thường có tổng mức đầu tư hàng tỷ USD, thời gian thu hồi vốn kéo dài 15–25 năm và phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng quốc tế. Tuy nhiên, với tỷ lệ Qc ở mức 65% như hiện nay, nhiều tổ chức tài chính quốc tế cho rằng mức độ đảm bảo doanh thu chưa đủ hấp dẫn để cấp vốn dài hạn.

11-1452110020260319143904.jpg
TS. Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam (Ảnh: PetroTimes)

Trao đổi với PetroTimes, TS. Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhận định: “Qc không đơn thuần là con số kỹ thuật mà là yếu tố quyết định khả năng huy động vốn của dự án. Với mức 65% trước đây, nhiều tổ chức tài chính quốc tế đánh giá là chưa đủ an toàn để cấp vốn”.

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, đề xuất nâng tỷ lệ Qc lên 75% là một tín hiệu tích cực, cho thấy cơ quan quản lý đang từng bước tháo gỡ những khó khăn cốt lõi của thị trường điện, đặc biệt là bài toán dòng tiền và thu xếp vốn cho các dự án điện khí LNG. Tuy nhiên, nếu kỳ vọng đây là giải pháp đủ mạnh để xử lý căn bản các vướng mắc hiện nay thì vẫn còn khoảng cách so với mong muốn của nhà đầu tư. Theo ông, để tạo ra tác động thực chất và bền vững, cần có cách tiếp cận tổng thể hơn, với các giải pháp đồng bộ nhằm chia sẻ rủi ro và lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư, phù hợp với định hướng phát triển thị trường điện minh bạch, hiệu quả.

Theo Quy hoạch điện VIII, điện khí LNG được xác định là một trong những nguồn điện nền quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam. Đến năm 2030, Việt Nam dự kiến phát triển khoảng 22–22,5 GW điện khí LNG, chiếm khoảng 9,5–12,3% tổng công suất nguồn điện. Đồng thời, khoảng 13 dự án LNG với tổng công suất khoảng 22.400 MW sẽ được triển khai.

Trong đó, cụm nhà máy Nhơn Trạch 3 và 4 – dự án điện khí LNG đầu tiên của Việt Nam sau khi vận hành thương mại từ cuối năm 2025 đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, đóng góp khoảng 874 triệu kWh vào tổng sản lượng điện quý I của PV Power (POW). Dự án gồm hai nhà máy với tổng công suất thiết kế 1.624 MW, dự kiến cung cấp khoảng 9–12 tỷ kWh điện mỗi năm, với tổng mức đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD.

Ngày 18/5 tới đây, liên danh nhà đầu tư gồm PV Power, Công ty TNHH Mía đường Nghệ An và SK Innovation Co., Ltd (Hàn Quốc) sẽ khởi công dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập có công suất 1.500MW, với tổng vốn đầu tư dự án hơn 59.000 tỷ đồng.

Trước đó, vào tháng 9/2025, Tập đoàn Vingroup (VIC) và CTCP Năng lượng VinEnergo đã khởi công dự án Nhà máy điện LNG Hải Phòng với diện tích gần 100ha và tổng mức đầu tư hơn 178.000 tỷ đồng.

Dự án có công suất thiết kế 4.800 MW, gồm giai đoạn 1 công suất 1.600 MW và giai đoạn 2 công suất 3.200 MW. Đây là nhà máy nhiệt điện LNG lớn nhất Việt Nam theo Quy hoạch điện VIII, đồng thời thuộc nhóm nhà máy điện khí có quy mô hàng đầu thế giới.

img1913-17588917864151550646863.jpg
Lễ khởi công dự án Nhà máy điện LNG Hải Phòng (Ảnh: Vingroup)

Dự kiến đến cuối năm 2030, nhà máy sẽ đi vào vận hành, cung cấp khoảng 9,6 tỷ kWh/năm ở giai đoạn 1 và 19,2 tỷ kWh/năm ở giai đoạn 2, không chỉ đảm bảo nguồn điện ổn định cho khu vực mà còn bổ sung đáng kể công suất cho hệ thống điện quốc gia.

Thu Huyền - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư