Với mục tiêu đề ra, Việt Nam phải hoàn thành quãng đường mà Trung Quốc và Hàn Quốc từng mất 30 - 40 năm trong vòng 5 năm.

Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đạt tổng chi cho khoa học công nghệ đạt khoảng 2% GDP. Đây không chỉ là một chỉ tiêu định lượng, mà còn là thước đo cho tham vọng chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ.
Bàn về mục tiêu này tại Triển lãm Quốc tế Công nghiệp Việt Nam 2025 (VIET INDUSTRY 2025), TS. Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, chia sẻ: “Hàn Quốc mất 40 năm và Trung Quốc mất 30 năm để đạt mức 2% GDP đầu tư cho khoa học công nghệ”.
Theo đó, Việt Nam chỉ còn 5 năm để nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ lên khoảng 2% GDP - tức phải rút ngắn chặng đường mà Trung Quốc và Hàn Quốc từng mất 30-40 năm xuống chỉ còn 5 năm.
Để đạt được mục tiêu này, ông Quân cho rằng, Việt Nam buộc phải tăng tốc đầu tư ở quy mô lớn, trong đó chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ cần đạt tối thiểu 3% tổng chi hằng năm, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực xã hội.
Thực tế hiện nay cho thấy khoảng cách vẫn còn khá xa. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2021 - 2025, ngân sách Nhà nước dành cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được phân bổ từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, tổng chi cho các lĩnh vực này còn rất khiêm tốn. Cụ thể, tỷ lệ chi ngân sách cho khoa học - công nghệ trong các năm 2021 là 1,37%, 2022 là 1,72%, 2023 là 1,39% và năm 2024 là 1,97%.
Riêng về mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D), theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra, đầu tư cho R&D hiện nay ở Việt Nam chỉ đạt 0,5% GDP.
Trong khi đó, theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, năm 2021, trung bình toàn cầu đạt 2,62% GDP, cao gấp hơn 5 lần so với Việt Nam. Các nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Mỹ, Đức hay Nhật Bản đều duy trì tỷ lệ chi cho R&D ở mức cao, thậm chí Hàn Quốc đã vượt 4% GDP từ năm 2016. Ngay cả các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ cũng lần lượt đạt mức 2,4% và 0,6% GDP cho R&D vào năm 2020, cao hơn Việt Nam.
Những con số này cho thấy đầu tư vào R&D không chỉ là xu hướng mà còn là điều kiện sống còn. Với doanh nghiệp, R&D giúp tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới, duy trì năng lực cạnh tranh trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng. Nếu chậm chân, nguy cơ tụt hậu là rất rõ ràng, như trường hợp Google từng bị cảnh báo có thể đánh mất vị thế do phản ứng chậm trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Ở cấp độ quốc gia, R&D đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, hình thành các ngành kinh tế giá trị cao và tái cấu trúc nền kinh tế.
Bài học từ Hàn Quốc là minh chứng rõ nét. Từ một quốc gia có thu nhập thấp trong thập niên 1960, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 14 thế giới, với GDP bình quân đầu người hơn 33.000 USD vào năm 2023, trong đó đầu tư mạnh mẽ và liên tục vào R&D là yếu tố then chốt.
Trung Quốc cũng đang đi theo con đường này khi dồn nguồn lực vào các ngành công nghệ cao. Giai đoạn 2018 - 2023, các lĩnh vực công nghệ cao của nước này tăng trưởng trung bình 12% mỗi năm, nhanh hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng GDP chung, và được kỳ vọng sẽ chiếm tới 19% GDP vào năm 2026.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã chính thức cụ thể hóa tham vọng bằng việc ban hành Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026, phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Chiến lược xác định khoa học công nghệ là động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh quốc gia, đồng thời gắn với các mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống.

Cùng với đó, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo được kỳ vọng vượt 40%, với tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số đạt tầm khu vực và quốc tế.
Không chỉ dừng ở mục tiêu chi 2% GDP cho R&D, chiến lược còn đặt ra hàng loạt chỉ tiêu cụ thể: đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%; quy mô kinh tế số chiếm ít nhất 30% GDP,...
Một điểm then chốt trong chiến lược là cơ cấu nguồn lực. Trong tổng chi 2% GDP cho R&D, khu vực ngoài ngân sách được kỳ vọng đóng góp hơn 60%. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, sẽ trở thành động lực chính cho đầu tư khoa học công nghệ trong dài hạn. Đây cũng là mô hình đã được chứng minh hiệu quả tại các nền kinh tế phát triển và các “con hổ”, “con rồng” châu Á.
Để có thể huy động được nguồn vốn đầu tư rất lớn này, TS. Nguyễn Quân nhấn mạnh rằng hệ thống cơ chế, chính sách hiện hành cần có những thay đổi mang tính đột phá.
Để khơi thông dòng vốn lớn này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng chi mà còn phải cải cách mạnh mẽ về cơ chế, chính sách. Từ hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đến xây dựng hạ tầng công nghệ hiện đại và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu – tất cả đều cần những bước đi mang tính đột phá và đồng bộ.
Nhìn tổng thể, mục tiêu đạt mức đầu tư 2% GDP cho khoa học công nghệ vào năm 2030 không chỉ là một con số, mà là phép thử cho năng lực chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam. Rút ngắn hành trình 30 -40 năm xuống còn 5 năm là một thách thức chưa từng có, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam bứt tốc, tái định vị trong chuỗi giá trị toàn cầu nếu tận dụng đúng thời điểm và huy động được toàn bộ nguồn lực xã hội.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-17 22:15
Bình luận
0 Bình luận