Thời gian ủ bệnh do virus Nipah kéo dài từ 3-14 ngày, thường kèm sốt cao, đau đầu, tiêu chảy...
Ngày 13/2/2026, Bộ Y tế chính thức ban hành Quyết định kèm theo tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah (NiV)”, thống nhất áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Theo nội dung hướng dẫn, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, có nguồn lây từ động vật sang người và có khả năng lây truyền giữa người với người.

Virus có thể xâm nhập vào cơ thể qua tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất bài tiết của chúng như nước tiểu, nước bọt; qua sử dụng thực phẩm bị nhiễm dịch tiết của dơi (như nhựa cây chà là, trái cây); đồng thời lây giữa người với người qua giọt bắn đường hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn.
Thời gian ủ bệnh phổ biến từ 3 đến 14 ngày, cá biệt có thể kéo dài hơn. Bệnh thường khởi phát đột ngột với sốt cao, đau đầu dữ dội, đau cơ, viêm họng, nôn, tiêu chảy.
Khi bước vào giai đoạn toàn phát, người bệnh có thể xuất hiện rối loạn thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; tình trạng suy giảm ý thức có thể tiến triển nhanh, thậm chí chuyển sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ. Ngoài ra, có thể ghi nhận co giật, yếu hoặc liệt chi, liệt vận nhãn.
Bên cạnh tổn thương thần kinh, bệnh còn gây ảnh hưởng hệ hô hấp với các triệu chứng ho, khó thở, suy hô hấp tiến triển nhanh. Ở thể nặng, người bệnh có nguy cơ suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết.
Một số trường hợp khỏi bệnh vẫn có thể tái phát viêm não sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh kéo dài như mệt mỏi mạn tính, thay đổi tính cách, trầm cảm hoặc các dấu hiệu thần kinh khu trú.

Về chẩn đoán, Bộ Y tế yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lấy mẫu, bảo quản, đóng gói và vận chuyển bệnh phẩm theo quy định trong công tác giám sát, phòng chống dịch.
Ca bệnh nghi ngờ được xác định khi có yếu tố dịch tễ liên quan (như đi từ vùng có dịch hoặc tiếp xúc với ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày) kèm triệu chứng lâm sàng phù hợp, hoặc có kết quả xét nghiệm huyết thanh học dương tính. Ca bệnh xác định phải có bằng chứng xét nghiệm phát hiện RNA của virus Nipah.
Trong điều trị, nguyên tắc xuyên suốt là cách ly chặt chẽ và kiểm soát nhiễm khuẩn nhằm ngăn ngừa lây lan trong cơ sở y tế. Tất cả trường hợp nghi ngờ hoặc đã xác định nhiễm bệnh đều phải nhập viện, bố trí tại phòng cách ly riêng hoặc khu vực chuyên biệt; hạn chế tối đa người không có nhiệm vụ tiếp xúc với bệnh nhân.
Do hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị chủ yếu tập trung vào hồi sức tích cực và xử trí triệu chứng.
Người bệnh được hỗ trợ chức năng các cơ quan bị tổn thương, hỗ trợ hô hấp tùy mức độ; điều trị chống co giật theo khuyến cáo; kiểm soát tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản và thở máy khi rơi vào hôn mê sâu. Kháng sinh chỉ sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát.
Hiện, chưa có vaccine phòng bệnh do virus Nipah. Các biện pháp phòng ngừa chủ yếu tập trung vào kiểm soát nguồn lây và cắt đứt đường truyền nhiễm theo hướng dẫn của Bộ Y tế, góp phần chủ động bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Mai Hương - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận