Năm 2025, tín dụng trung – dài hạn tăng vượt xa mặt bằng chung trong khi huy động vẫn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Bước sang 2026, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài kỳ tiếp tục tăng, thu hẹp vùng đệm thanh khoản của hệ thống.
Tín dụng trung – dài hạn kéo dài mặt bằng kỳ hạn tài sản
Báo cáo của Chứng khoán Rồng Việt ghi nhận ngành ngân hàng kết thúc năm 2025 với tổng thu nhập hoạt động khoảng 737 nghìn tỷ đồng, tăng 13% so với 2024, và lợi nhuận trước thuế khoảng 356 nghìn tỷ đồng, tăng 19%.
Riêng quý IV, thu nhập hoạt động đạt khoảng 209 nghìn tỷ đồng, còn lợi nhuận trước thuế ở mức 97 nghìn tỷ đồng, tăng lần lượt 15% và 19% so với cùng kỳ; so với quý III, hai chỉ tiêu này tăng 16% và 11%. Các diễn biến này phản ánh mức tăng tín dụng 19,5%, thu nhập lãi thuần tăng 15% và hoạt động thu hồi nợ xấu ngoại bảng.
Đến cuối năm, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 14,4 triệu tỷ đồng. Tăng trưởng phân hóa giữa các nhóm ngân hàng, trong đó một số tổ chức như MBB, VPB, HDB sử dụng hạn mức tín dụng ưu đãi gắn với xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, qua đó mở rộng dư nợ nhanh hơn mặt bằng chung trong quý IV. Cùng với sự gia tăng về quy mô, danh mục cho vay đồng thời dịch chuyển về phía các khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn.

Theo Rồng Việt, tín dụng trung – dài hạn là động lực tăng trưởng chính. Cho vay trung – dài hạn tăng khoảng 26–27% từ đầu năm, trong khi cho vay ngắn hạn tăng quanh mức 14%. Dòng vốn được phân bổ nhiều hơn vào hạ tầng, bất động sản, đầu tư tài sản cố định và một phần tín dụng tiêu dùng, khiến kỳ hạn bình quân của tài sản sinh lãi kéo dài đáng kể.

Khi bước sang 2026, hệ thống ghi nhận danh mục tín dụng có quy mô lớn hơn và thời hạn dài hơn, trong khi yêu cầu điều chỉnh cấu trúc nguồn vốn theo hướng tương ứng trở nên rõ nét hơn.
Vốn ngắn hạn gánh tín dụng dài và khoảng cách kỳ hạn nới rộng
Ở phía nguồn vốn, báo cáo của Chứng khoán Rồng Việt cho thấy huy động toàn hệ thống đến cuối năm 2025 tăng 16,8%, cao hơn mức 11,4% tại cuối quý III nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng tín dụng.

Trong cơ cấu huy động, tiền gửi khách hàng tăng 15%, còn huy động qua giấy tờ có giá tăng 32,7% so với mức 21,7% tại cuối quý III. Khoảng cách tăng trưởng huy động – tín dụng vì vậy tiếp tục ở vùng âm, kéo tỷ lệ cho vay trên huy động của nhiều ngân hàng lên mức cao.
Trong quý IV, số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại hệ thống giảm khoảng 55 nghìn tỷ đồng trong khi tín dụng tiếp tục mở rộng. Các ngân hàng tăng vay trên thị trường liên ngân hàng và sử dụng kênh thị trường mở.
Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong nửa đầu tháng 12 lên khoảng 7% mỗi năm; từ ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất cầm cố OMO thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5% mỗi năm. Thanh khoản ngắn hạn vì vậy phần lớn dựa vào nguồn vốn rất ngắn trên thị trường 2 và OMO, trong bối cảnh danh mục tín dụng trung – dài hạn đã tăng đáng kể so với đầu năm.
Theo ghi nhận của Rồng Việt, để bổ sung nguồn vốn dài hạn hơn, các ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi. Mặt bằng lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng khoảng 40 điểm cơ bản trong năm 2025, còn nhóm ngân hàng quốc doanh tăng khoảng 20 điểm cơ bản, chủ yếu trong hai tuần cuối năm.
Sau các điều chỉnh này, tỷ lệ cho vay trên huy động tại nhiều ngân hàng giảm nhẹ 1–5 điểm phần trăm so với cuối quý III nhưng vẫn cao so với mức tăng tín dụng gần 20%. Cơ cấu nguồn vốn mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình kéo dài kỳ hạn.
Báo cáo của Rồng Việt cho thấy tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn tại nhiều ngân hàng tăng thêm khoảng 1–3 điểm phần trăm trong quý IV. Tín dụng trung – dài hạn tăng nhanh hơn tốc độ cải thiện kỳ hạn nguồn vốn, trong khi phần lớn dòng vốn mới vẫn tập trung ở kỳ hạn ngắn.
Một tỷ trọng đáng kể các khoản vay dài hạn tiếp tục dựa trên nguồn vốn ngắn hạn, khiến khoảng cách kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn nới rộng và vùng đệm thanh khoản ngắn hạn co lại trước biến động lãi suất hoặc dòng tiền.
Nợ xấu, NIM và “vùng đệm” kỹ thuật cho bài toán lệch kỳ hạn
Phân tích chất lượng tài sản trong báo cáo của Chứng khoán Rồng Việt cho thấy đến cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức 1,84%, còn nợ nhóm 2 ở mức 1,15%, thấp hơn so với các năm từ 2022.
Trong quý IV, nợ xấu hình thành ròng khoảng 37 nghìn tỷ đồng; riêng STB ghi nhận mức tăng ròng khoảng 28 nghìn tỷ đồng và chiếm phần lớn biến động. Cùng thời điểm, nhiều ngân hàng nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên trên 100% và mở rộng quy mô dự phòng.
Theo số liệu trong báo cáo, hoạt động xử lý rủi ro trong quý IV đạt khoảng 48 nghìn tỷ đồng nợ xấu được xử lý, trong khi diễn biến tích cực ở các lĩnh vực như bất động sản và xuất khẩu giúp hạn chế hình thành nợ mới. Từ tháng 10/2025, việc luật hóa Nghị quyết 42 hỗ trợ các ngân hàng đẩy nhanh thu hồi nợ xấu ngoại bảng, với tổng giá trị thu hồi cả năm đạt gần 54 nghìn tỷ đồng.
Cơ cấu nợ xấu theo nhóm mà Rồng Việt tổng hợp cho thấy tỷ lệ nợ nhóm 5 cuối năm 2025 ở mức cao nhất kể từ năm 2022, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng đều qua các quý.
Ở cấp độ từng ngân hàng, số liệu cho thấy quy mô nợ xấu hình thành ròng ổn định hoặc có xu hướng giảm tại nhiều tổ chức, đồng thời tỷ lệ bao phủ nợ xấu đi lên ở không ít trường hợp. Nền tảng dự phòng theo đó dày hơn so với giai đoạn trước và tạo dư địa kỹ thuật cho các điều chỉnh liên quan đến cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn.
Biên lãi ròng năm 2025 duy trì quanh vùng 3,0–3,1%, thấp hơn mức 3,3–3,5% của năm 2024 nhưng không còn xu hướng giảm kéo dài từ 2023. NIM quý IV đạt khoảng 3,1%, đi ngang so với bình quân chín tháng và tăng thêm khoảng 10 điểm cơ bản so với quý III, trong bối cảnh các ngân hàng điều chỉnh lãi suất cho vay để bù đắp chi phí vốn.
Khi đặt cùng với mức dự phòng đã tích lũy, các số liệu này cho thấy hệ thống ngân hàng bước vào giai đoạn điều chỉnh kỳ hạn nguồn vốn với một vùng đệm tài chính xác định, trong khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho tín dụng trung – dài hạn tiếp tục là chỉ tiêu trọng yếu đối với cấu trúc cân đối và mức độ nhạy cảm trước các cú sốc ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.
Trường Thanh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận