PGS.TS Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ nếu muốn trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Theo ông, động lực mới phải đến từ cải cách thể chế, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tại Tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”, ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính khẳng định bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay đang đối mặt với nhiều bất ổn, từ xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, khủng hoảng năng lượng đến xu hướng bảo hộ thương mại và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định trong giai đoạn 2021-2025.

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt trên 6%, riêng năm 2025 đạt khoảng 7%; quy mô nền kinh tế vượt mốc 500 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên 900 tỷ USD. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện năm 2025 ước đạt hơn 27 tỷ USD, mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây.
Dù vậy, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng nền kinh tế vẫn tồn tại nhiều hạn chế nội tại. Hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn ở mức cao, trong khi năng suất lao động của Việt Nam mới chỉ bằng khoảng 1/3 Thái Lan và 1/10 Singapore. Đồng thời, lợi thế về lao động trẻ và chi phí nhân công thấp đang dần suy giảm do tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.
“Trong giai đoạn tới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư hay khai thác lợi thế lao động giá rẻ mà phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng thể chế”, ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.
Để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 8 động lực tăng trưởng trọng tâm.
Trong đó, cải cách thể chế được xem là dư địa và động lực quan trọng hàng đầu. Theo ông Nguyễn Quốc Anh, việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ và xử lý triệt để các điểm nghẽn pháp lý sẽ góp phần giải phóng nguồn lực cho khu vực kinh tế tư nhân – khu vực hiện đóng góp khoảng 50% GDP và sử dụng tới 85% lực lượng lao động.
Ông cũng cho rằng việc tinh gọn bộ máy, giảm các tầng nấc trung gian và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ giúp giảm chi thường xuyên, đồng thời tháo gỡ những ách tắc trong phê duyệt dự án và thúc đẩy giải ngân đầu tư công hiệu quả hơn. Việc tăng cường phân quyền cho địa phương trong quản lý đất đai, đầu tư và tài nguyên sẽ mở ra không gian phát triển lớn hơn cho cấp cơ sở.
Bên cạnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Quốc Anh, kinh tế số của Việt Nam hiện duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 15-20% mỗi năm và dự kiến đạt quy mô khoảng 45 tỷ USD trong vài năm tới. Đây sẽ là lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao và giúp cải thiện mạnh năng suất lao động.
Để tận dụng cơ hội này, Việt Nam cần có cơ chế đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và công nghệ xanh.
Một động lực quan trọng khác là bảo đảm an ninh tài chính để huy động nguồn lực cho phát triển. Theo ông Nguyễn Quốc Anh, giai đoạn 2021-2025 đã tạo dựng nền tảng tài chính tương đối an toàn với mức bội chi ngân sách bình quân khoảng 3,1% GDP và nợ công ở mức 33,8% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép của Quốc hội cũng như mặt bằng chung thế giới.
Đây được xem là dư địa quan trọng để Việt Nam huy động nguồn lực triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, cảng biển cửa ngõ hay điện hạt nhân, từ đó tạo động lực cho các chu kỳ tăng trưởng mới.
Ngoài ra, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò “vốn mồi” dẫn dắt đầu tư xã hội. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quốc Anh, vấn đề hiện nay không chỉ nằm ở tốc độ giải ngân mà còn là hiệu quả thực chất của các dự án đối với tăng trưởng kinh tế. Cùng với đó, việc đẩy nhanh cổ phần hóa, thoái vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng là yêu cầu cấp thiết nhằm khơi thông nguồn lực lớn đang tập trung tại khu vực này.
Đề cập tới dư địa từ hội nhập quốc tế, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đang thực thi, Việt Nam có độ mở kinh tế rất lớn. Tuy nhiên, dư địa trong giai đoạn tới không chỉ là mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn là nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, tiến sâu hơn vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao.
Áp lực từ các FTA về tiêu chuẩn môi trường, lao động và quản trị cũng sẽ tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững sẽ trở thành xu thế tất yếu. Theo ông Nguyễn Quốc Anh, cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 sẽ mở ra nhiều cơ hội mới trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, thị trường tín chỉ carbon và tài chính xanh.
Ngoài các động lực trên, ông Nguyễn Quốc Anh đánh giá thị trường nội địa gần 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của tầng lớp trung lưu và thương mại điện tử sẽ là “bệ đỡ” quan trọng cho nền kinh tế trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều rủi ro và bất ổn.
“Tăng trưởng trong thời gian tới không chỉ nằm ở việc mở rộng đầu tư hay gia tăng xuất khẩu mà quan trọng hơn là nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng thể chế và tạo dựng các động lực mới dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh”, ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.
Khúc Văn - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận