Vĩ mô

Giá xuất khẩu giảm sâu, gạo Việt 'mắc kẹt' vì nút thắt hóa đơn VAT

Trong lúc giá gạo xuất khẩu lao dốc theo chu kỳ toàn cầu, hạt gạo Việt lại “mắc kẹt” ngay từ ruộng vì yêu cầu hóa đơn VAT, đẩy người nông dân vào thế yếu trong chuỗi giá trị.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang trượt dài theo chu kỳ đi xuống của thị trường thế giới. Theo số liệu Tổng cục Hải quan, tháng 1/2026, giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ còn khoảng 470 USD/tấn, thấp hơn 39 USD/tấn so với mức bình quân năm 2025 và giảm tới 157 USD/tấn so với năm 2024.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là trong lúc thị trường quốc tế suy yếu, chuỗi giá trị lúa gạo trong nước lại bộc lộ thêm những điểm nghẽn nội tại, khiến rủi ro và thiệt thòi dồn về phía người nông dân.

Khi hóa đơn VAT trở thành “nút thắt” lưu thông

Theo chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy, hạt gạo xuất khẩu Việt Nam hiện đang chịu tác động đồng thời của ba lực cản lớn. Thứ nhất là chu kỳ giá thấp của thị trường thế giới. Gạo vốn là mặt hàng có biên lợi nhuận mỏng. Mỗi nhịp giảm giá không chỉ làm giảm thu nhập của nông dân, mà còn bào mòn khả năng xoay vòng vốn của doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu.

Thứ hai là cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt. Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và nhiều quốc gia xuất khẩu khác đang giành giật từng hợp đồng. Trong đó, Ấn Độ nổi lên như một “người chơi” có quy mô lớn, dự trữ dồi dào và chính sách linh hoạt, sẵn sàng bán giá thấp để giữ thị phần. Khi mặt bằng giá bị kéo xuống, các nước còn lại gần như không có nhiều lựa chọn ngoài việc chấp nhận cuộc chơi về giá, dù lợi nhuận bị thu hẹp.

Thứ ba – và cũng là lực cản gây nhiều bức xúc nhất lại nằm ngay trong nội tại chuỗi thu mua lúa gạo. Đó là yêu cầu phải có hóa đơn VAT khi bán lúa, gạo cho doanh nghiệp.

Về nguyên tắc quản lý thuế, yêu cầu hóa đơn VAT không sai. Nhưng trong thực tế sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, thì quy định này đang tạo ra một rào cản lớn.

“Phần lớn nông dân không có tư cách pháp nhân, không thể xuất hóa đơn VAT. Khi bị yêu cầu hóa đơn, họ buộc phải bán qua trung gian hoặc chấp nhận bị ép giá để “bù” chi phí thuế và rủi ro cho doanh nghiệp. Những người cần bán nhanh để xoay vốn, lo chi phí sinh hoạt hoặc chuẩn bị vụ mới, lại chính là nhóm yếu thế nhất trong chuỗi giá trị”, ông Thuỷ cho hay.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp thu mua lúa gạo không có hóa đơn cũng phải đối mặt với rủi ro về thuế, chi phí hợp thức hóa chứng từ, thậm chí nguy cơ bị truy thu. Trong bối cảnh giá xuất khẩu thấp, biên lợi nhuận mỏng, không ít doanh nghiệp chọn cách giảm thu mua, siết điều kiện, hoặc đứng ngoài thị trường. Trường hợp thương lái phải mua hóa đơn qua môi giới, chi phí phát sinh có thể lên tới 50–100 đồng/kg lúa, tiếp tục bị trừ thẳng vào giá mua của nông dân.

bo-sung-quy-dinh-ve-kinh-doanh-xuat-khau-gao1735953450-4754.jpeg
Khi nút thắt VAT được tháo gỡ, chi phí tài chính của doanh nghiệp sẽ giảm ngay, dòng tiền lưu chuyển nhanh hơn.

Gỡ thuế để cứu dòng chảy hạt gạo

Vấn đề đặt ra không phải là buông lỏng quản lý thuế, mà là gỡ vướng cho đúng chỗ, đúng thời điểm và đúng đối tượng. Hạt gạo xuất khẩu không chỉ là hàng hóa thương mại, mà còn gắn với sinh kế của hàng triệu nông dân và an ninh lương thực quốc gia. Nếu ách tắc ngay từ khâu thu mua vì hóa đơn VAT, thiệt hại kinh tế – xã hội sẽ lớn hơn nhiều so với số thuế thu được.

Nhiều chuyên gia cho rằng, cần những giải pháp linh hoạt và sát thực tiễn hơn, như xem xét cơ chế miễn, giảm hoặc khoán thuế đối với thu mua lúa trực tiếp từ nông dân; mở rộng vai trò của hợp tác xã làm đầu mối xuất hóa đơn; hoặc áp dụng chứng từ thu mua đặc thù cho nông sản thô, thay vì áp chuẩn hóa đơn VAT như với hàng hóa công nghiệp.

Khi nút thắt VAT được tháo gỡ, chi phí tài chính của doanh nghiệp sẽ giảm ngay, dòng tiền lưu chuyển nhanh hơn, khả năng cạnh tranh về giá của gạo Việt trên thị trường quốc tế được cải thiện. Quan trọng hơn, lợi ích sẽ quay trở lại người nông dân thông qua giá thu mua ổn định hơn, giảm tình trạng ép giá vào mùa thu hoạch rộ.

Trong bối cảnh quý I năm nay thị trường gạo thế giới còn nhiều biến động và cạnh tranh gia tăng, việc gỡ vướng thuế VAT lúc này được xem là thời điểm phù hợp nhất, song song với thúc đẩy chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh – sạch. Đó cũng là con đường để hạt gạo Việt chuyển từ “bán sản lượng” sang “bán giá trị”, và để người nông dân không bị bỏ lại phía sau trong chính chuỗi giá trị mà họ tạo ra.

Minh Anh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư