Việc áp dụng mô hình mới đã góp phần tối ưu hạ tầng và nguồn lực khai thác.
Mới đây, Cục Hàng không Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết việc triển khai mô hình Phối hợp ra quyết định tại cảng hàng không, sân bay (A-CDM) trong giai đoạn 1.
Tại hội nghị, các đại biểu đã tổng kết những kết quả nổi bật đạt được tại hai cảng hàng không hàng đầu cả nước là Nội Bài và Tân Sơn Nhất, đồng thời định hướng kế hoạch triển khai cho giai đoạn tiếp theo.

Phát biểu tại sự kiện, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng - Trưởng Ban chỉ đạo triển khai mô hình phối hợp ra quyết định trong khai thác cảng hàng không, sân bay - nhấn mạnh rằng, việc tiếp tục áp dụng mô hình A-CDM không còn mang tính lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của ngành hàng không.
Ông cũng đánh giá cao cách triển khai chủ động, có hệ thống và bài bản của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV). Bên cạnh đó, ông ghi nhận sự phối hợp tích cực, tinh thần trách nhiệm của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), các hãng hàng không cùng các đơn vị phục vụ mặt đất trong việc tham gia hệ thống, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và điều hành bay.
Đối với giai đoạn 2, Cục trưởng yêu cầu cần xử lý dứt điểm những hạn chế còn tồn tại ở giai đoạn trước, đồng thời ngăn ngừa các sai sót và lỗ hổng của hệ thống ngay từ bước thiết kế.
Cục trưởng cũng yêu cầu xây dựng bộ chỉ số KPI cụ thể cho từng cảng hàng không nhằm đánh giá hiệu quả một cách khoa học. Các sân bay trực thuộc ACV như Nội Bài và Tân Sơn Nhất phải đảm bảo vận hành hệ thống liên tục, ổn định, không để xảy ra gián đoạn.
Đặc biệt, công tác đào tạo lực lượng nhân sự trực tiếp tham gia hệ thống cần được triển khai định kỳ, quyết liệt, nhằm đảm bảo từng khâu trong quy trình đều được thực hiện đúng chuẩn, hạn chế tối đa sai sót chủ quan.
Trước đó, báo cáo tại hội nghị cho thấy mô hình A-CDM trong giai đoạn 1 đã mang lại hiệu quả rõ rệt, phù hợp với các tiêu chuẩn cũng như xu hướng phát triển của ngành hàng không quốc tế.
Việc áp dụng mô hình này tại hai cảng hàng không trọng điểm đã góp phần tối ưu hạ tầng và nguồn lực khai thác, rút ngắn thời gian lăn của tàu bay, qua đó tiết kiệm nhiên liệu và giảm lượng phát thải CO2 ra môi trường.
Cụ thể, tại Tân Sơn Nhất, thời gian lăn của tàu bay giảm trung bình từ 0,48 đến 0,65 phút mỗi chuyến (tương đương 29-39 giây), giúp tiết kiệm hơn 3,7 triệu USD chi phí nhiên liệu.
Trong khi đó, tại Nội Bài, tỷ lệ đúng giờ (OTP) được cải thiện so với trước khi triển khai, đạt 71,47%, đồng thời thời gian lăn ra của tàu bay giảm trung bình gần 1,5 phút cho mỗi chuyến.
Quang Dương - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận