Chứng khoán

Lãi margin vọt lên 14%, dư nợ vượt 400.000 tỷ đồng: Áp lực đè nặng NĐT trong bối cảnh thị trường biến động khó lường

Lãi vay ký quỹ đang lên vùng 14%/năm khi dư nợ toàn thị trường đạt 412.585 tỷ đồng. Diễn biến này phản ánh không chỉ nhu cầu đòn bẩy tăng mạnh, mà còn cho thấy chi phí vốn đã cao hơn và năng lực cấp vốn giữa các công ty chứng khoán đang phân hóa rõ hơn.

14%/năm đã thành mức niêm yết mới, nhưng chưa phải lãi vay thực trả

Quý I/2026 ghi nhận một nhịp tăng rõ của mặt bằng lãi vay ký quỹ tại nhiều công ty chứng khoán. HSC niêm yết 14%/năm, VPS áp dụng 14%/năm, SSI duy trì 13,5%/năm, VNDIRECT công bố D-Margin ở mức 13,3%/năm, còn Vietcap áp dụng lãi suất chuẩn 13%/năm.

Vùng 14%/năm vì thế xuất hiện thường xuyên hơn và đang dần trở thành một mức niêm yết mới trên thị trường cho vay ký quỹ.

Tuy vậy, mức 14%/năm chưa phản ánh đầy đủ chi phí vay thực tế của phần lớn nhà đầu tư. Nhiều công ty vẫn duy trì các gói ưu đãi thấp hơn đáng kể, như TCBS 7,89%/năm cho lần giải ngân đầu tiên, VPS 8,8%/năm trong 90 ngày, SSI 9%/năm trong 90 ngày, VNDIRECT 6,8%/năm trong 15 ngày đầu và ACBS 8%/năm trong 14 ngày đầu trước khi trở về mức thông thường.

Sự khác biệt còn rõ hơn khi nhìn vào từng sản phẩm cụ thể. KBSV áp dụng KB Margin S7 ở mức 14,6%/năm từ ngày thứ 8, KB Bestie ở mức 7,5%/năm với dư nợ dưới 100 triệu đồng và KB HiMargin ở mức 9,9%/năm trong 15 ngày đầu, trong khi MBS triển khai gói 9,9%/năm cho nhóm khách hàng giao dịch chủ động và các chương trình từ 6,99% đến 7,7% cho phần hạn mức ưu đãi.

Diễn biến này cho thấy lãi vay ký quỹ hiện không còn đi theo một biểu giá chung. Mức lãi đang được chia theo sản phẩm, thời hạn vay, quy mô dư nợ và nhóm khách hàng, nên con số niêm yết cao nhất chưa chắc là mức lãi mà phần lớn dòng tiền margin thực sự phải trả.

Thực tế, lợi suất thực thu bình quân của hoạt động cho vay ký quỹ toàn ngành còn 8,2% trong 9 tháng 2025, dù bảng giá chuẩn ở một số sản phẩm đã lên tới 14,85% sau giai đoạn ưu đãi. Khoảng cách giữa lãi suất niêm yết và lãi suất thực thu vì thế ngày càng đáng chú ý hơn.

2401183425985763329.jpg
Ảnh minh họa

Lãi vay đi lên khi dư nợ đòn bẩy tăng mạnh và giá vốn cao hơn

Mặt bằng lãi vay ký quỹ đi lên cùng lúc với nhu cầu vốn đòn bẩy tăng nhanh. Sang quý IV/2025, tổng dư nợ liên quan đến ký quỹ tăng lên 412.585 tỷ đồng, cao hơn 65,7% so với cùng kỳ, cho thấy quy mô vốn dành cho hoạt động cho vay đã nở mạnh so với giai đoạn trước.

Khi nhu cầu vốn tăng nhanh, phần vốn cấp thêm không còn được định giá như thời kỳ đòn bẩy rẻ và khá đồng đều. Nói cách khác, lãi vay margin tăng không chỉ vì nhà đầu tư vay nhiều hơn, mà còn vì nguồn vốn để cho vay đã đắt hơn.

Tuy nhiên, nhu cầu vốn không phải là yếu tố duy nhất chi phối mặt bằng lãi suất. Một phần quan trọng khác nằm ở giá vốn đầu vào của hệ thống tài chính, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng qua đêm đầu năm có thời điểm tăng lên vùng 16% đến gần 20% trước khi hạ nhiệt.

Trong cùng thời gian, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 1,4% từ đầu năm, trong khi huy động mới chỉ tăng khoảng 0,36%. Đầu tháng 3, ít nhất 6 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động, với nhiều kỳ hạn dài vượt 6%/năm và có nơi lên 8,1%/năm, cho thấy vốn ngắn hạn đã bước sang một mặt bằng giá cao hơn.

Lãi suất huy động nhích lên, nền giá vốn của hệ thống không còn thấp như trước
Lãi suất huy động nhích lên, nền giá vốn của hệ thống không còn thấp như trước

Trong bối cảnh đó, lãi vay ký quỹ được hình thành từ nhiều cấu phần, gồm chi phí vốn đầu vào, phần bù thanh khoản, phần bù rủi ro, chi phí vận hành và biên lợi nhuận mục tiêu. Khi giá vốn tăng lên và biến động lớn hơn, lãi suất đầu ra vì thế khó giữ nguyên như trước.

Diễn biến điều chỉnh lãi suất tại các công ty chứng khoán phần nào phản ánh thay đổi này.

Áp lực chi phí đầu vào cũng thể hiện qua hoạt động huy động vốn của từng công ty. VNDIRECT phát hành thành công 2.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng với tỷ lệ hấp thụ 99,9%, đồng thời duy trì tổng hạn mức tín dụng 50.000 tỷ đồng; trong đó, lô 2 năm có lãi suất kỳ đầu 8%/năm, lô 3 năm 8,3%/năm, còn các kỳ sau áp dụng lãi suất tham chiếu cộng biên độ từ 2,8% đến 3%/năm.

Tại MBS, vay ngắn hạn cuối năm 2025 ở mức 17.730 tỷ đồng, còn trái phiếu dài hạn ở mức 1.562 tỷ đồng. Lãi suất vay ngắn hạn ngân hàng nằm trong khoảng 4% đến 6,9%/năm, trong khi các lô trái phiếu đang lưu hành mang lãi suất từ 6,8% đến 7,6%/năm, cho thấy khoảng chênh giữa chi phí vốn và lãi suất cho vay ký quỹ 13% đến 14% đã hẹp hơn đáng kể so với cách nhìn chỉ dựa trên mức lãi niêm yết.

Lãi vay phân hóa theo sức mạnh vốn và sức chứa bảng cân đối

Sự khác biệt giữa các công ty chứng khoán hiện lên khá rõ trên bảng cân đối kế toán. Cuối năm 2025, HSC có tổng tài sản khoảng 46.499 tỷ đồng, dư nợ cho vay hơn 28.150 tỷ đồng, nợ vay ngắn hạn khoảng 30.889 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu khoảng 14.543 tỷ đồng.

Quy mô cho vay của HSC tương đương 60,5% tổng tài sản và khoảng 1,94 lần vốn chủ sở hữu, trong khi nợ vay ngắn hạn tương đương 2,12 lần vốn chủ sở hữu. Cấu trúc này cho thấy công ty sử dụng đòn bẩy khá mạnh để nuôi dư nợ cho vay, nên độ nhạy với biến động chi phí vốn cũng lớn hơn.

HSC ghi nhận thu nhập từ các khoản cho vay và phải thu gần 2.395 tỷ đồng, trong khi chi phí vay gần 1.453 tỷ đồng. Nếu tính trên số dư bình quân, suất sinh lợi kế toán của danh mục cho vay ở mức khoảng 9,86%, còn chi phí vay bình quân khoảng 5,66%, cho thấy chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào vẫn còn nhưng không rộng như cách nhìn đơn giản từ mức lãi niêm yết 14%/năm.

Ở chiều khác, TCBS có cấu trúc vốn nhẹ hơn. Cuối năm 2025, công ty có tổng tài sản khoảng 80.632 tỷ đồng, dư nợ cho vay ký quỹ và ứng trước 43.860 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu khoảng 44.100 tỷ đồng và tổng nợ có lãi khoảng 34.094 tỷ đồng.

Tỷ lệ cho vay trên vốn chủ sở hữu của TCBS ở mức 0,99 lần, còn tổng nợ vay trên vốn chủ sở hữu ở mức 0,77 lần. Dư nợ tăng nhanh, nhưng nền vốn chủ dày hơn giúp công ty có độ linh hoạt lớn hơn trong việc giữ biên và thiết kế sản phẩm.

Vietcap và SSI nằm giữa hai trạng thái này. Cuối năm 2025, Vietcap có tổng tài sản khoảng 36.006 tỷ đồng, dư nợ cho vay 16.167 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu khoảng 18.010 tỷ đồng, tương đương dư nợ cho vay bằng 44,9% tổng tài sản và khoảng 0,9 lần vốn chủ sở hữu.

SSI có tổng tài sản khoảng 92.975 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu hơn 31.054 tỷ đồng, còn dư nợ cho vay và ứng trước khoảng 38.940 tỷ đồng. Riêng doanh thu cho vay ký quỹ trong quý IV/2025 đạt 1.098 tỷ đồng, cho thấy dư địa cho vay vẫn lớn nhưng cách phân bổ vốn và khả năng chịu giá vốn của từng công ty là không giống nhau.

Trong cùng một mặt bằng vốn cao hơn, mức độ điều chỉnh lãi suất vì thế cũng phân hóa. Khác biệt nằm ở quy mô vốn chủ, cấu trúc nguồn vốn và tỷ trọng tài sản đã dành cho hoạt động cho vay, hay nói cách khác là không phải công ty nào cũng có cùng sức chịu đựng khi giá vốn đi lên.

Trường Thanh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức đầu tư