Phiên 2/3, lãi suất VND qua đêm liên ngân hàng lên 11%/năm trong bối cảnh số dư Citad thấp hơn cuối năm 2025. NHNN công bố hoán đổi USD/VND kỳ hạn 7 ngày, hạn mức tối đa 1 tỷ USD.
Hoán đổi USD/VND 7 ngày, hạn mức 1 tỷ USD
Trong phiên 2/3, lãi suất bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,6–6,3% ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên 27/2. Lãi suất qua đêm ở mức 11,1%/năm, kỳ hạn 1 tuần 12%/năm; kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lần lượt là 9,25%/năm và 7,8%/năm.

Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh cung ứng vốn trên kênh thị trường mở. Trên kênh cầm cố giấy tờ có giá, NHNN chào thầu 38.000 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày, 38.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 15.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất 4,5%/năm. Khối lượng trúng thầu đạt 82.640,53 tỷ đồng, gồm 30.175,38 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày, 37.465,15 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 15.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày.
Trong ngày, khối lượng đáo hạn là 47.868,59 tỷ đồng và không phát sinh tín phiếu mới. Trên cơ sở đó, lượng bơm ròng qua kênh cầm cố đạt 34.771,94 tỷ đồng, đưa dư nợ cầm cố lưu hành lên 439.449,88 tỷ đồng.

Lãi suất OMO duy trì 4,5%/năm ở các kỳ hạn 7, 14 và 21 ngày. Tuy nhiên, việc tiếp cận kênh này phụ thuộc vào tài sản đủ chuẩn và hạn mức nội bộ, khiến một phần nhu cầu vốn dịch chuyển sang thị trường liên ngân hàng trong bối cảnh lãi suất tăng.
Song song với kênh thị trường mở, NHNN công bố triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo phương án công bố, từ ngày 3/3/2026, NHNN thực hiện hoán đổi USD/VND kỳ hạn 7 ngày theo cấu trúc mua USD giao ngay và bán USD kỳ hạn, với ngày giá trị T+1 là 04/03/2026.
Giao dịch được niêm yết với tỷ giá mua giao ngay 23.837 VND/USD và tỷ giá bán kỳ hạn 23.843 VND/USD. Hạn mức tối đa của phiên là 1 tỷ USD; mỗi tổ chức tín dụng được đăng ký tối đa 80% tổng khối lượng. Nếu toàn bộ hạn mức được sử dụng, hệ thống nhận khoảng 23.837 tỷ đồng tại ngày giá trị và hoàn trả khoảng 23.843 tỷ đồng sau 7 ngày; chênh lệch 6 VND/USD, tương ứng khoảng 6 tỷ đồng trên quy mô 1 tỷ USD, được phản ánh trong điểm kỳ hạn.
Quy đổi theo năm, chênh lệch 6 VND trên nền tỷ giá 23.837 VND/USD cho kỳ hạn 7 ngày tương ứng khoảng 1,31%/năm. Kết hợp với lãi suất USD ngắn hạn quanh 3,61–3,68%/năm, chi phí vốn VND ngầm định của nguồn vốn hoán đổi được ước tính trong vùng 4,9–5%/năm.
Với cấu trúc mua USD giao ngay và bán USD kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi làm tăng lượng VND trong hệ thống trong thời hạn 7 ngày và chuyển lượng USD tương ứng về NHNN, trước khi đảo chiều khi hợp đồng đáo hạn.
VNIBOR tăng mạnh khi HQLA thu hẹp, hoán đổi 6 tỷ USD bước vào kỳ đáo hạn
Yếu tố nền của nhịp tăng lãi suất liên ngân hàng đầu năm 2026 là tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng cao hơn tốc độ tăng tiền gửi. Dư nợ cho vay tăng bình quân khoảng 17%/năm, kéo tỷ lệ dư nợ trên GDP và mức đòn bẩy tài chính khu vực tư nhân tăng so với giai đoạn trước. Khi huy động tăng chậm hơn tín dụng, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tăng lên và khoảng đệm thanh khoản trên bảng cân đối thu hẹp theo thời gian.
Cơ cấu nguồn vốn cũng ghi nhận dịch chuyển sang các kênh nhạy cảm hơn với lãi suất. Tỷ trọng tiền gửi trong tổng nguồn vốn có giai đoạn giảm từ khoảng 75% xuống quanh 70%, trong khi tỷ trọng vốn liên ngân hàng tăng lên khoảng 13–14% và tỷ trọng trái phiếu, giấy tờ có giá tăng từ khoảng 7% lên gần 9%.
Ở phía tài sản, bộ đệm tài sản có tính thanh khoản cao (HQLA) thu hẹp. Một số chỉ báo cho thấy tỷ lệ thanh khoản lõi trên tổng tài sản hữu hình giảm từ khoảng 8,4% xuống 7,6% trong giai đoạn gần đây, trong khi tỷ lệ nguồn vốn có mức ổn định thấp duy trì quanh 29–30% tổng tài sản hữu hình. Một số tổ chức xếp hạng ghi nhận mức nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao của ngân hàng Việt Nam thấp hơn mặt bằng một số thị trường trong khu vực.
Ngoài ra, chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn tiếp tục hiện diện khi nguồn vốn huy động tập trung ở kỳ hạn ngắn, còn nhu cầu tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt ở bất động sản, hạ tầng và sản xuất, duy trì ở mức cao. Nhu cầu cân đối thanh khoản theo ngày vì vậy gắn nhiều với thị trường liên ngân hàng. Các yêu cầu tối ưu tỷ lệ an toàn vốn, nâng chỉ tiêu vốn cốt lõi cũng đi kèm xu hướng hạn chế nắm giữ tài sản thanh khoản có lợi suất thấp.
Bước sang đầu năm 2026, dòng tiền trong hệ thống chịu tác động từ yếu tố thời điểm. Cuối tháng 12/2025, số dư tài khoản thanh toán VND của các ngân hàng thương mại tại NHNN (Citad) khoảng 632 nghìn tỷ đồng. Đến cuối tháng 01/2026, số dư giảm xuống quanh 268 nghìn tỷ đồng khi dòng tiền nộp thuế tập trung từ giữa đến cuối tháng 1 khiến một phần tiền gửi chuyển sang tài khoản Kho bạc Nhà nước tại NHNN. Cùng giai đoạn, nhu cầu chuẩn bị tiền mặt cho chi tiêu dịp Tết Nguyên đán làm lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống tăng, qua đó làm giảm dự trữ thanh toán trên Citad.
Sau Tết, Citad phục hồi trong thời gian ngắn, lên khoảng 360 nghìn tỷ đồng vào 3/2 và vượt 400 nghìn tỷ đồng vào 5/2. Đầu tháng 3, số dư giảm về quanh 307 nghìn tỷ đồng.
Trong tuần 23/2–27/2, hoạt động trên kênh thị trường mở diễn ra theo hướng hút ròng. Trên kênh cầm cố, khối lượng đáo hạn đạt 87.992,38 tỷ đồng, trong khi khối lượng trúng thầu là 9.773,99 tỷ đồng; không phát sinh tín phiếu, nên NHNN hút ròng 78.218,39 tỷ đồng. Diễn biến này diễn ra cùng giai đoạn Kho bạc Nhà nước rút ròng tiền gửi khỏi các ngân hàng thương mại.
Cùng giai đoạn, các nghiệp vụ hoán đổi USD/VND triển khai từ đầu năm 2026 bước vào kỳ hoàn trả. Từ đầu năm đến giữa tháng 2, NHNN thực hiện 4 đợt hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 21 ngày, với tổng hạn mức công bố 6 tỷ USD. Nếu toàn bộ hạn mức được sử dụng, hệ thống ngân hàng nhận khoảng 143 nghìn tỷ đồng VND tại các ngày giá trị, tương đương gần 47% mức Citad quanh đầu tháng 3/2026 và khoảng 23% mức cuối năm 2025.
Đến cuối tháng 2, toàn bộ 6 tỷ USD hoán đổi lần lượt đáo hạn, kéo theo lượng VND khoảng 143 nghìn tỷ đồng được hoàn trả và quay trở lại NHNN trong thời gian ngắn.
Trường Thanh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức đầu tư
Bình luận
0 Bình luận