Luật sư đề xuất quy định ngưỡng khắc phục 50% thiệt hại trong án kinh tế, làm căn cứ xem xét khoan hồng và quyết định giảm án.

Sáng 30/10, tại hội thảo “Nộp tiền khắc phục hậu quả án kinh tế: Hài hòa giữa nghiêm trị và khoan hồng” do Báo Nông thôn Ngày nay/Điện tử Dân Việt tổ chức, nhiều chuyên gia pháp lý, đại biểu Quốc hội và đại diện cộng đồng doanh nghiệp đã trao đổi về chính sách khoan hồng đối với người phạm tội kinh tế, đặc biệt là việc chủ động khắc phục hậu quả.
Đề xuất khắc phục 50% thiệt hại để được xem xét giảm án dưới khung hình phạt
Phát biểu tại hội thảo, luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, trong thực tiễn giải quyết các vụ án kinh tế, câu hỏi đầu tiên mà bị can hoặc người nhà thường đặt ra với luật sư là có nên khắc phục hậu quả và phải nộp bao nhiêu tiền để được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Theo ông, vấn đề này gần như xuất hiện trong 100% vụ án kinh tế. Tuy nhiên, pháp luật hiện chưa có quy định cụ thể về tỷ lệ khắc phục hậu quả tương ứng với mức độ khoan hồng.
Luật sư Trần Tuấn Anh cho biết, Bộ luật Hình sự từng quy định tỷ lệ khắc phục 3/4 đối với tội tham ô tài sản và nhận hối lộ để được chuyển hình phạt từ tử hình xuống tù chung thân. Tuy nhiên, quy định này không còn phù hợp khi hai tội danh trên đã được bỏ hình phạt tử hình.
Trong khi đó, việc xác định số tiền mỗi bị can cần nộp để được ghi nhận tình tiết tự nguyện khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt trong những vụ án có nhiều đồng phạm với vai trò và điều kiện kinh tế khác nhau.
Theo luật sư, khi chưa có tỷ lệ cụ thể, người hành nghề luật rất khó đưa ra tư vấn rõ ràng cho thân chủ về mức tiền cần khắc phục để được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
Từ thực tế này, luật sư Trần Tuấn Anh đề xuất khi sửa đổi Bộ luật Hình sự, cần nghiên cứu quy định tỷ lệ khắc phục hậu quả đối với các tội phạm kinh tế.
Cụ thể, ông đề xuất trường hợp người phạm tội khắc phục từ 50% thiệt hại trở lên, đồng thời có thêm tình tiết thành khẩn khai báo, có thể được xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, tức quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Nếu sau đó người phạm tội tiếp tục khắc phục toàn bộ hậu quả, có thể được xem xét áp dụng mức khoan hồng cao hơn theo quy định tại Điều 54.
Để làm rõ đề xuất, luật sư đưa ra ví dụ trường hợp cơ quan điều tra xác định ban đầu thiệt hại là 1 tỷ đồng. Khi có quy định về ngưỡng khắc phục 50%, luật sư có thể tư vấn thân chủ nộp ít nhất 500 triệu đồng để đạt tỷ lệ này, thay vì phải cân nhắc trong tình trạng chưa có căn cứ định lượng cụ thể.
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý không thể áp dụng máy móc cùng một tỷ lệ cho tất cả vụ án. Chẳng hạn, vụ án gây thiệt hại 1.000 tỷ đồng và vụ án gây thiệt hại 100 triệu đồng có quy mô rất khác nhau, số tiền còn lại sau khắc phục cũng mang ý nghĩa khác nhau.
Do đó, việc xem xét chính sách giảm án, khoan hồng cần gắn với tính chất, mức độ hành vi, vai trò của từng người và hoàn cảnh cụ thể của vụ án.
Luật sư Trần Tuấn Anh kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành hướng dẫn về tỷ lệ khắc phục hậu quả, có thể thông qua văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Đây sẽ là cơ sở giúp luật sư tư vấn cho thân chủ và góp phần bảo đảm việc áp dụng chính sách giảm án, khoan hồng thống nhất.
Nộp tiền khắc phục hậu quả không đồng nghĩa được miễn trách nhiệm hình sự
Cũng tại hội thảo, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội nhấn mạnh nguyên tắc không thể dùng tiền để mua chuộc hay bù đắp mà mặc nhiên được miễn trách nhiệm hình sự.

Theo ông, việc hoàn trả tiền, khắc phục hậu quả là căn cứ để xem xét chính sách khoan hồng, chứ không đồng nghĩa với việc người vi phạm không bị buộc tội.
Đại biểu cho biết Bộ luật Hình sự đã có nhiều chính sách khoan hồng như miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ điều tra, miễn hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt. Tinh thần nhân văn của Nghị quyết 37 nằm ở việc xem xét khoan hồng đối với những người thực sự ăn năn, hối cải, nhận thức được sai lầm và chủ động khắc phục hậu quả.
Ông Phạm Văn Hòa cũng đề cập đến thực tế một bộ phận cán bộ có năng lực, trình độ cao vướng vòng lao lý do sai phạm trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khiến nhiều người hình thành tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm.
“Có làm thì có thể sai, không làm thì không sai. Vì vậy, thà không làm còn hơn làm rồi vướng vào pháp luật”, ông nói.
Theo đại biểu, Nghị quyết 37 góp phần tạo cơ chế khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức và doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Những trường hợp có sai sót nhưng không tham nhũng, vụ lợi, đáp ứng các điều kiện theo quy định có thể được xem xét áp dụng cơ chế miễn, giảm trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, đối với hành vi tham nhũng, chiếm đoạt tài sản, người vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định. Việc thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và chủ động khắc phục hậu quả là những yếu tố cần được cân nhắc khi áp dụng chính sách khoan hồng.
Cùng quan điểm, PGS-TS, Đại tá Đỗ Cảnh Thìn, Phó Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng pháp luật nghiêm minh không đồng nghĩa với việc phải xử nặng bằng mọi giá, mà cần bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Từng tham gia điều tra nhiều vụ án kinh tế, ông nhận định việc khởi tố, truy tố một người không chỉ dẫn đến hậu quả pháp lý mà còn tác động đến uy tín, danh dự, cơ hội nghề nghiệp và các mối quan hệ của họ.
Vì vậy, chính sách khuyến khích người vi phạm chủ động khắc phục thiệt hại cần được nhìn nhận như cơ hội để sửa chữa sai lầm, đồng thời góp phần thu hồi tài sản và hạn chế thiệt hại cho Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.
Tuy nhiên, ông lưu ý cần phân biệt rõ khoan hồng với tha bổng, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn chấp hành hình phạt. Đặc biệt, không thể đánh đồng người cố ý phạm tội rồi dùng tiền tìm cách giảm nhẹ trách nhiệm với người thực sự thành khẩn, tự giác khắc phục thiệt hại.
Ở góc độ nghiên cứu pháp luật hình sự, TS. Lưu Hoài Bảo, Trưởng Bộ môn Tội phạm học và Khoa học điều tra tội phạm, Đại học Luật Hà Nội cho rằng chính sách khoan hồng có ảnh hưởng đến tính răn đe hay không còn phụ thuộc vào từng nhóm đối tượng và trường hợp cụ thể.
Theo ông, cần đánh giá đầy đủ hành vi, hậu quả, nhân thân người phạm tội, yếu tố lỗi, động cơ vụ lợi và các sai phạm trước đó. Đồng thời, cần có hướng dẫn rõ ràng về những trường hợp được và không được áp dụng chính sách khoan hồng.
Việc xem xét chính sách khoan hồng phải dựa trên tính chất, mức độ vi phạm, động cơ, vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân và mức độ tự nguyện khắc phục hậu quả.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận