Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và theo dõi sát diễn biến thị trường.

Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) vừa công bố danh sách các mặt hàng có nguy cơ cao bị điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp.
Đáng chú ý, nhóm thép và sản phẩm thép tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh tại nhiều thị trường chủ lực như EU, Úc, Hoa Kỳ, Canada và Mexico
Theo cơ quan này, xu hướng chung là nhiều mặt hàng thép của Việt Nam đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao, thậm chí chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nhập khẩu của nước sở tại. Đây là yếu tố khiến nguy cơ bị khởi xướng điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc chống lẩn tránh gia tăng rõ rệt.
Tại thị trường EU, một loạt sản phẩm thép của Việt Nam nằm trong diện cảnh báo, bao gồm thép dẹt cán nguội (HS: 7209.15, 7209.18, 7209.25, 7209.26, 7209.27, 7209.28, 7211.23, 7211.29, 7225.50, 7226.92), thép cán phẳng mạ hoặc tráng thiếc (HS: 7210.11, 7210.12, 7210.70, 7210.90, 7212.10, 7212.40), bu lông - đinh vít bằng sắt hoặc thép (HS: 7318.12, 7318.14, 7318.15), thép phủ vật liệu hữu cơ (HS: 7210.70, 7212.40, 7225.99, 7226.99) và thép không gỉ cán nguội (HS: 7219.31, 7219.32, 7219.33, 7219.34, 7219.35, 7220.20).
Các mặt hàng này đều có điểm chung là kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong năm 2025, có sản phẩm tăng trên 100%, dù thị phần chưa quá lớn nhưng đang mở rộng nhanh. Trong bối cảnh EU đã áp thuế chống bán phá giá với nhiều quốc gia khác, nguy cơ mở rộng điều tra sang Việt Nam là đáng lưu ý.
Tại Úc, ba nhóm sản phẩm gồm thép hình cán nóng (HS: 7216.31, 7216.32, 7216.33, 7216.40, 7228.70), thép kết cấu rỗng (HS: 7306.30, 7306.61, 7306.69, 7306.90) và thép mạ kẽm (HS: 7210.49) cũng được đưa vào danh sách theo dõi. Đáng chú ý, có mặt hàng đạt mức tăng trưởng trên 100% và chiếm hơn 20% tổng nhập khẩu của Úc, tạo áp lực lớn về nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại.
Ở khu vực châu Mỹ, rủi ro tiếp tục gia tăng với các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng đột biến. Cụ thể, cáp thép dự ứng lực xuất khẩu sang Mexico (HS: 7312.10) tăng hơn 200% và chiếm gần 30% thị phần nhập khẩu.
Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, cùng mặt hàng này (HS: 7312.10) vẫn chiếm hơn 27% thị phần dù kim ngạch giảm nhẹ, tiềm ẩn nguy cơ bị điều tra chống bán phá giá hoặc chống lẩn tránh. Ngoài ra, mặt bích bằng thép không gỉ (HS: 7307.21) cũng được cảnh báo khi Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp lớn thứ ba tại thị trường Hoa Kỳ.
Tại Canada, sản phẩm ống thép hàn các-bon (HS: 7306.30) ghi nhận tăng trưởng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nhập khẩu, đưa Việt Nam vào nhóm các nhà cung cấp lớn, đồng nghĩa với nguy cơ bị điều tra trong thời gian tới.
Cục Phòng vệ thương mại nhấn mạnh, bên cạnh yếu tố tăng trưởng kim ngạch, một rủi ro lớn khác đến từ việc sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các quốc gia đang bị áp thuế phòng vệ. Điều này có thể khiến hàng hóa Việt Nam bị điều tra chống lẩn tránh thuế, đặc biệt tại các thị trường như EU, Hoa Kỳ và Úc.
Trong bối cảnh đó, cơ quan quản lý khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và theo dõi sát diễn biến thị trường. Việc chuẩn bị sớm hồ sơ, dữ liệu và năng lực ứng phó sẽ là yếu tố quyết định để giảm thiểu rủi ro khi các cuộc điều tra có thể được khởi xướng bất cứ lúc nào.
Khi cánh cửa xuất khẩu ngày càng mở rộng, đi kèm với đó là những “hàng rào kỹ thuật” ngày càng khắt khe. Nếu không kịp thời thích ứng, lợi thế tăng trưởng có thể nhanh chóng chuyển thành áp lực pháp lý cho chính doanh nghiệp.
Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tổng lượng thép xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 10,06 triệu tấn, tương ứng giá trị 6,63 tỷ USD. Xét về lượng, con số này giảm 20% so với cùng kỳ; còn xét về giá trị, giảm khoảng 11% so với năm 2024.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-01 17:12
Bình luận
0 Bình luận