Từng bị các tập đoàn dầu khí quốc tế trả lại với mức giá tượng trưng 1 USD do bài toán kinh tế không khả thi, mỏ Đại Hùng hiện đã ghi nhận mức doanh thu lũy kế vượt 4,5 tỷ USD tính tới cuối năm 2025.
Mỏ Đại Hùng ghi nhận thành tựu mới
Tháng 5/2026, cụm công trình "Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả khai thác mỏ Đại Hùng" của Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đã được vinh danh tại Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Dầu khí Việt Nam.

Kết quả thực tế cho thấy, tính đến cuối năm 2025, dự án này đã ghi nhận mức doanh thu lũy kế trên 4,5 tỷ USD và nộp ngân sách Nhà nước hơn 650 triệu USD. Theo định hướng tầm nhìn đến năm 2050, thông qua việc triển khai giai đoạn Pha 3 và phát triển khu vực Đại Hùng Nam, tuổi thọ của mỏ dự kiến sẽ được kéo dài đến năm 2034 với tổng sản lượng cộng dồn đạt khoảng 123 triệu thùng. Ước tính đến hết năm 2050, mỏ sẽ mang lại mức tổng doanh thu lên tới 7,5 tỷ USD.
Nằm cách bờ biển khoảng 265km với các giàn khoan hoạt động liên tục 24/7, mỏ Đại Hùng hiện đóng vai trò khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam. Nơi đây đồng thời là cơ sở hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn, cấp nước ngọt và nhiên liệu cho ngư dân đánh bắt xa bờ.

Khủng hoảng lịch sử và mức giá 1 USD
Lịch sử mỏ Đại Hùng từng ghi nhận một giai đoạn khủng hoảng trầm trọng vào tháng 2/1999, khi các nhà thầu quốc tế lớn là BHP (Australia) và Petronas (Malaysia) chính thức rút lui khỏi dự án do không tìm ra bài toán hiệu quả kinh tế. Toàn bộ tài sản được chuyển giao lại cho phía Việt Nam với mức giá tượng trưng chỉ 1 USD.
Thời điểm đó, đặc điểm địa chất của mỏ vô cùng phức tạp, cấu tạo bị phân mảnh thành hơn 30 khối nhỏ độc lập khiến áp suất vỉa sụt giảm mất kiểm soát. Hệ quả là sản lượng khai thác của mỏ lao dốc từ 35.000 thùng/ngày xuống chỉ còn khoảng 2.000 thùng/ngày. Khi đó việc khai thác mỏ Đại Hùng được coi là "bài toán không có lời giải" đối với các mô hình kinh điển của phương Tây.
Loạt công nghệ giúp tiết kiệm hàng chục triệu USD
Dưới sự chỉ đạo của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), thay vì đóng mỏ, PVEP đã quyết định bắt tay thực hiện với một hành trình nghiên cứu khoa học bền bỉ.
Động lực cho sự hồi sinh của mỏ Đại Hùng đến từ quyết định tự chủ công nghệ, thay vì rập khuôn các mô hình đắt đỏ của quốc tế đối với một mỏ có trữ lượng cận biên. Trong lĩnh vực địa vật lý, đội ngũ kỹ sư đã sử dụng công nghệ tái xử lý địa chấn 3D-PSDM trên nền tảng dị hướng TTI, giúp định vị chính xác vị trí giếng khoan, tránh rủi ro đứt gãy và tối ưu hóa dòng chảy.
Đáng chú ý, Việt Nam đã làm chủ hoàn toàn chuỗi công nghệ EPCI (Thiết kế - Mua sắm - Chế tạo - Lắp đặt) cho các giàn đầu giếng cố định (WHP), thay thế cho hệ thống khai thác ngầm (subsea) đắt đỏ của phương Tây. Tại khu vực nước sâu 128m, giàn công nghệ "không người ở" (unmanned) WHP-DH02 được thi công bằng công nghệ chân đế cọc váy và phương pháp hạ thủy đẩy trượt (skidding) từ sà lan phóng. Giải pháp này giúp dự án tối ưu hóa và tiết kiệm hàng triệu USD chi phí thuê tàu cẩu siêu trường, siêu trọng.
Bên cạnh đó, quá trình bảo dưỡng giàn FPU-DH01 được thực hiện thông qua công nghệ sửa chữa nổi (Wet Docking) ngay tại mỏ, thay vì đưa giàn lên đà (Dry Dock) theo cách truyền thống. Việc không làm gián đoạn quá trình sản xuất đã giúp dự án tiết kiệm khoảng 35 triệu USD và bảo toàn dòng doanh thu liên tục.
Hoàng Đan - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-05-18 14:56
Bình luận
0 Bình luận