Giải trí

Nhà ngoại giao kiệt xuất của Việt Nam là người duy nhất trên thế giới từ chối giải Nobel Hòa bình, từng làm ‘chấn động’ truyền thông quốc tế

Tham gia hoạt động cách mạng khi mới 15 tuổi, ông là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, đồng thời là nhà ngoại giao kiệt xuất của dân tộc Việt Nam.

Người chiến sĩ Cộng sản kiên cường, mẫu mực

Ông Lê Đức Thọ - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương là một trong những cán bộ lãnh đạo có nhiều năm hoạt động trên các chiến trường từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng trong Đảng.

Ông có tên khai sinh là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay thuộc phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình.

Từ năm 1926, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, tham gia phong trào bãi khóa và lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh. Đến năm 1928, ông hoạt động trong Học sinh Hội dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Định.

Tháng 10/1929, ông Lê Đức Thọ được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, giữ vai trò Bí thư chi bộ học sinh, phụ trách công tác thanh niên học sinh. Tháng 11/1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông được cấp ủy chi bộ nhà tù Côn Đảo cử làm Bí thư chi bộ và tham gia Thường vụ chi ủy nhà tù.

Đồng chí Lê Đức Thọ 5
Chân dung ông Lê Đức Thọ lúc sinh thời. Ảnh: TTXVN

Giai đoạn 1936-1939, sau khi ra tù, ông được giao phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng bộ, đồng thời xây dựng cơ sở bí mật của Đảng tại Nam Định. Từ năm 1939 đến 1944, ông Lê Đức Thọ tiếp tục bị địch bắt và kết án 5 năm tù, bị giam giữ tại các nhà tù Hà Nội, Sơn La và Hòa Bình.

Tháng 9/1944, sau khi được trả tự do, ông được Trung ương Đảng giao phụ trách khu an toàn của Trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ. Tháng 10/1944, ông được chỉ định là Ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng thời tham dự hội nghị mở rộng Ban Thường vụ Trung ương Đảng đêm 09/03/1945, nơi đề ra chủ trương phát động cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa.

Tháng 08/1945, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, ông được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông phụ trách công tác tổ chức của Đảng. Tháng 12/1946, ông tham dự Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.

Năm 1948, ông thay mặt Trung ương Đảng tham gia Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác. Năm 1949, ông giữ chức Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Đến năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Trong giai đoạn 1949-1954, ông đồng thời là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm 1955, ông được bổ sung vào Bộ Chính trị, phụ trách công tác sửa sai trong cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Đồng chí Lê Đức Thọ 6
Ông là một trong những cán bộ lãnh đạo có nhiều năm hoạt động trên các chiến trường từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ. Ảnh tư liệu

Cuối năm 1956, ông giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương; từ tháng 11/1956 đến năm 1961 kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, giữ cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Năm 1966, ông kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; năm 1967 được cử tham gia Quân ủy Trung ương.

Dấu ấn đặc biệt trên bàn đàm phán Hiệp định Paris

Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, ông được Bộ Chính trị cử vào miền Nam giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đến tháng 05/1968, ông được điều ra miền Bắc, giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, giữ vai trò Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán riêng với đại diện Chính phủ Mỹ.

Quá trình đàm phán Hiệp định Paris kéo dài hơn 4 năm với sự tham gia của 4 bên: phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy làm trưởng đoàn, ông Lê Đức Thọ là cố vấn; phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (ban đầu do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, sau đó bà Nguyễn Thị Bình đảm nhiệm); cùng phái đoàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Đây được ghi nhận là một trong những cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử, diễn ra song song với những diễn biến phức tạp trên chiến trường. Các cuộc thương lượng được ví như một mặt trận đặc biệt, nơi diễn ra những cuộc đấu trí căng thẳng giữa các bên.

Theo thống kê, từ năm 1968 đến 1972 đã diễn ra 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 24 cuộc họp bí mật, khoảng 500 cuộc họp báo và hơn 1.000 cuộc phỏng vấn.

Đáng chú ý, các cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Cố vấn An ninh quốc gia, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger được xem là những cuộc đối thoại mang tính bước ngoặt trong tiến trình đàm phán. Tư liệu từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia II cho biết, trong giai đoạn 1970-1972, hai bên đã tiến hành hàng chục phiên thương lượng.

Đồng chí Lê Đức Thọ 2
Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, tiến sĩ Henry Kissinger đàm phán về cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Ảnh tư liệu

Theo ghi chép từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ông Lê Đức Thọ được lựa chọn tham gia đàm phán tại Paris nhờ kinh nghiệm thực tiễn phong phú, phù hợp với chiến lược vừa đấu tranh quân sự vừa đàm phán ngoại giao.

Trong suốt quá trình này, ông kiên định nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, với lập trường yêu cầu Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đồng thời bảo đảm lực lượng cách mạng tiếp tục hoạt động cho đến khi đất nước thống nhất.

Trong hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”, bà Nguyễn Thị Bình mô tả các cuộc đối thoại giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger là những cuộc đấu trí căng thẳng. Năm 1972, khi chiến sự gia tăng, các cuộc tranh luận giữa ông Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy và Henry Kissinger kéo dài hơn 2 tháng xoay quanh dự thảo Hiệp định Paris.

Tháng 12/1972, Mỹ tiến hành chiến dịch không kích bằng máy bay B52 xuống Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm. Tuy nhiên, chiến dịch này không đạt được mục tiêu đề ra. Quân và dân Việt Nam giành thắng lợi trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, tạo bước ngoặt quan trọng trên bàn đàm phán.

Theo cuốn sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris”, sau thất bại trong chiến dịch không kích, Mỹ buộc phải nối lại đàm phán trong bối cảnh chịu nhiều áp lực từ dư luận quốc tế. Tài liệu này ghi nhận việc ông Lê Đức Thọ trở lại bàn đàm phán trong bối cảnh thuận lợi hơn, tiếp tục giữ vững quan điểm yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam.

Đồng chí Lê Đức Thọ 4
Ông Lê Đức Thọ được lựa chọn tham gia đàm phán tại Paris nhờ kinh nghiệm thực tiễn phong phú, phù hợp với chiến lược vừa đấu tranh quân sự vừa đàm phán ngoại giao. Ảnh tư liệu

Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973 là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài trên nhiều mặt trận, trong đó có đóng góp của các lực lượng chính trị, quân sự và ngoại giao. Trên mặt trận ngoại giao, vai trò của cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và bà Nguyễn Thị Bình được ghi nhận trong tiến trình đàm phán kéo dài này.

Thẳng thắn từ chối giải thưởng danh giá bậc nhất hành tinh

Tháng 10/1973, sau khi ký kết thành công Hiệp định Paris, ông Lê Đức Thọ trở thành người Châu Á đầu tiên được trao giải Nobel Hòa Bình, cùng với Henry Kissinger. Nhưng, ông Lê Đức Thọ từ chối. Điều này đồng nghĩa rằng, nhà ngoại giao của Việt Nam trở thành người đầu tiên (và duy nhất tính đến thời điểm hiện tại) trên thế giới từ chối nhận Giải Nobel Hòa bình.

Quyết định này ngay lập tức tạo ra phản ứng mạnh mẽ trên trường quốc tế. Nhiều cơ quan báo chí lớn đồng loạt đưa tin về sự kiện. Tờ New York Times số ra ngày 24/10/1973 đăng bài viết với tiêu đề: “Tho Rejects Nobel Prize, Citing Vietnam Situation” (Lê Đức Thọ từ chối Giải Nobel Hòa bình vì tình hình Việt Nam).

Theo nội dung bài báo, ông Lê Đức Thọ từ chối giải thưởng với lý do cốt lõi là hòa bình thực sự chưa được thiết lập tại Việt Nam. Ông khẳng định: "Hòa bình thực sự vẫn chưa được lập lại và tôi hành động vì dân tộc mình". New York Times dẫn lời ông cho biết: "Hòa bình chưa thực sự được thiết lập ở miền Nam Việt Nam, vì vậy tôi không thể nhận giải thưởng này".

Đồng chí Lê Đức Thọ 3
Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ là người duy nhất từ chối giải Nobel Hòa bình. Ảnh: Time

Nhà ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh, việc xem xét nhận giải chỉ có thể diễn ra khi Hiệp định Paris được tôn trọng, chiến tranh chấm dứt hoàn toàn và hòa bình thực sự được xác lập tại miền Nam Việt Nam.

Sau đó, ông Lê Đức Thọ đã gửi thư tới bà Aase Lionaes, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Nobel của Quốc hội Na Uy thời điểm đó nhằm giải thích rõ quyết định của mình. Trong bức thư này, ông không đề cập tới người đồng nhận giải là Henry Kissinger.

Hành động từ chối giải thưởng của ông Lê Đức Thọ thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về bản chất của Hiệp định Paris. Theo đó, đây không phải là sự thỏa hiệp giữa các bên, mà là kết quả của một quá trình đấu tranh, dẫn đến việc chấm dứt sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Việc đứng chung một giải thưởng với đại diện phía Mỹ được cho là không phù hợp với lập trường này.

Trong một bức thư trả lời phỏng vấn nữ phóng viên hãng thông tấn UPI Synvana Foa ngày 15/03/1985, được thư ký Lưu Văn Lợi ghi chép lại, Lê Đức Thọ đã giải thích rõ hơn về quyết định của mình. Ông nói: "Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn và có ý nghĩa quan trọng trên thế giới. Nhưng vấn đề là ai là người thực sự mang lại hòa bình".

Ông nêu rõ, trong suốt 20 năm chiến tranh, phía Mỹ tiến hành các hoạt động quân sự tại Việt Nam, trong khi nhân dân Việt Nam là lực lượng đấu tranh để giành độc lập và lập lại hòa bình. Theo ông, chính Việt Nam mới là bên tạo ra hòa bình, chứ không phải phía Mỹ.

Ông Lê Đức Thọ cũng cho biết, trong thư gửi Ủy ban Nobel, ông đã phân tích chi tiết về bản chất của cuộc chiến tranh. Ông cho rằng việc đặt ngang hàng giữa bên tiến hành chiến tranh và bên đấu tranh giành hòa bình là không phù hợp và đó là lý do ông không thể chấp nhận giải thưởng.

Đồng chí Lê Đức Thọ 1
Hành động từ chối giải thưởng của ông Lê Đức Thọ thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về bản chất của Hiệp định Paris. Ảnh: TTXVN

Nhiều năm sau, khi trả lời báo chí, con trai của Lê Đức Thọ cho biết, cha ông không bao giờ có ý định nhận giải thưởng cho cá nhân. Theo quan điểm của ông, nếu Giải Nobel Hòa bình được trao thì nên dành cho toàn thể nhân dân Việt Nam - những người đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập và kiến tạo hòa bình.

Giải Nobel Hòa bình năm 1973 đến nay vẫn được xem là một trong những giải thưởng gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử. Truyền thông và dư luận quốc tế thời điểm đó đã có nhiều phản ứng trái chiều, thậm chí có ý kiến mang tính châm biếm. Tờ New York Times từng gọi đây là “Nobel Chiến tranh”.

Một số nguồn tin cho biết, sau khi được trao giải vắng mặt, Henry Kissinger đã từng tìm cách trả lại giải thưởng, tuy nhiên đề nghị này không được Ủy ban Nobel chấp thuận.

Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:

- Đồng chí Lê Đức Thọ: Khái lược tiểu sử và quá trình cách mạng - Tạp chí Tuyên giáo

- Đằng sau quyết định từ chối nhận Nobel Hòa Bình của "Cố vấn đặc biệt" Lê Đức Thọ - Báo Lao động

- Lê Đức Thọ: Người Việt duy nhất được trao giải Nobel Hòa bình - Báo Lâm Đồng

- Cơn "chấn động" khi ông Lê Đức Thọ từ chối, Kissinger "tự hào" nhận Nobel Hòa bình - Time, New York Times nói gì? - Báo Quân đội Nhân dân

Bảo Lam - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-29 14:02