Tháo vát làm kinh doanh là vậy, nhưng bà có cuộc đời đầy truân chuyên.
Trong bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, hoạt động thương mại của phụ nữ chủ yếu gắn với những hình thức buôn bán nhỏ lẻ. Hình ảnh người phụ nữ tảo tần buôn gánh bán bưng từng được nhà thơ Tú Xương khắc họa trong câu thơ nổi tiếng: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng”. Những trường hợp phụ nữ vươn lên thành doanh nhân quy mô lớn rất hiếm.
Trong lịch sử thương mại Việt Nam giai đoạn cận đại, Trần Thị Lan - thường được biết đến với tên gọi Tư Hồng, là một trường hợp đặc biệt. Tên tuổi bà từng xuất hiện dày đặc trên báo chí Hà Nội thời thuộc địa, gắn với nhiều hoạt động kinh doanh quy mô lớn và những tranh luận trái chiều trong dư luận.

Sau năm 1888, Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa. Nhiều tuyến phố được đổi sang tên Pháp. Trong số đó, phố Richaud (nay là Quán Sứ) từng được báo chí và người dân nhắc đến với 2 biệt thự lớn của 2 nhà thầu giàu có bậc nhất thời bấy giờ: doanh nhân Nguyễn Huy Quang và Trần Thị Lan (Tư Hồng).
Cô gái vùng quê nghèo, sở hữu nhan sắc "chim sa, cá lặn"
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, hiếm có người phụ nữ nào trong xã hội Hà Nội thời nhượng địa lại xuất hiện nhiều trong các cuộc tranh luận về công và tội như Tư Hồng. Người ủng hộ xem bà là hình mẫu phụ nữ dám vượt qua số phận, bước ra khỏi những ràng buộc xã hội để nắm bắt cơ hội làm ăn và vươn lên thành một nhà tư sản có thế lực. Tuy nhiên, cũng có ý kiến phê phán đời tư nhiều biến động và các thương vụ làm ăn của bà.
Trần Thị Lan sinh năm 1868 tại Hà Nam (cũ) trong một gia đình nghèo.
Theo nhiều tư liệu và giai thoại còn lưu truyền, từ khi còn trẻ, Trần Thị Lan đã nổi bật bởi sự thông minh và nhan sắc được mô tả là “chim sa cá lặn”. Người xưa thường nhắc đến đôi mắt của bà với cách ví “nhãn trung hữu thủy” - nghĩa là “trong mắt có nước”, một lối nói cổ để chỉ ánh nhìn sâu và cuốn hút, dễ khiến người đối diện rung động. Nhan sắc cùng sự nhanh nhạy trong giao tiếp được cho là những yếu tố giúp Trần Thị Lan sớm tạo được ấn tượng trong các mối quan hệ xã hội, đặt nền tảng cho những bước ngoặt lớn sau này trong cuộc đời bà.
Năm 17 tuổi, do gia đình mắc nợ, bà bị ép gả làm vợ lẽ cho một lý trưởng lớn tuổi. Không chấp nhận số phận, bà bỏ trốn ra Nam Định làm thuê và chung sống với một người đàn ông nghèo làm nghề bán bún xáo trâu. Cuộc sống kéo dài khoảng 2 năm nhưng gia đình nhỏ không có con.

Sau khi cha mẹ qua đời, em trai bà bị lý trưởng bắt làm đầy tớ để trừ nợ. Mong muốn giải cứu em khiến Trần Thị Lan tiếp tục rời Nam Định. Trong một lần gặp gỡ, bà quen một thương nhân người Hoa gốc Quảng Đông tên Hồng. Người này giúp bà trả nợ cho gia đình và chuộc em trai. Hai người chuyển về Hải Phòng sinh sống, từ đó bà được gọi là “thím Hồng”.
Tuy nhiên, cuối năm 1890, việc buôn bán của người chồng người Hoa thua lỗ, ông trở về Trung Quốc, để lại bà một mình ở Hải Phòng. Trong hoàn cảnh bơ vơ nơi đất khách, Trần Thị Lan mở một cửa hàng tạp hóa nhỏ để mưu sinh.
Thời điểm này, tại Hà Nội xuất hiện nhiều phụ nữ Việt kết hôn với người Pháp, sống theo lối sống phương Tây và thường được gọi chung là “me Tây”. Theo lời rủ của bạn bè, Trần Thị Lan chuyển lên Hà Nội, tự học tiếng Pháp, mở quán bán gạo ngoài đê và buôn chuyến lên các vùng trung du.
Năm 1892, trong một buổi vũ hội nhân ngày Quốc khánh Pháp, bà gặp viên quan tư Croibier Huguet, thường gọi là Tư Laglan. Sau thời gian quen biết, 2 người kết hôn. Từ đây, Trần Thị Lan được gọi là Tư Hồng.
Những thương vụ làm ăn thành công vang dội, trở thành người phụ nữ có "máu mặt" nhất trên thương trường
Nhờ thông thạo tiếng Pháp và khả năng giao tiếp tốt, bà nhanh chóng mở rộng quan hệ với giới kinh doanh và quan chức trong hệ thống chính quyền thuộc địa. Năm 1892, bà nộp hồ sơ xin thành lập Công ty thầu An Nam. Đây là sự kiện gây chú ý lớn khi một phụ nữ đứng ra thành lập doanh nghiệp thầu khoán trong bối cảnh lĩnh vực này gần như do nam giới chi phối.
Công ty của bà trúng thầu nhiều hợp đồng cung cấp thực phẩm cho quân đội và các nhà tù ở Bắc Kỳ. Hoạt động kinh doanh sau đó mở rộng sang vận tải đường sông và đường biển.

Dự án lớn nhất đưa tên tuổi Tư Hồng trở thành đề tài bàn luận rộng rãi là gói thầu phá dỡ tường thành Hà Nội. Ngày 28/7/1893, Hội đồng thị chính Hà Nội quyết định triển khai dự án này và Toàn quyền Đông Dương Jean Marie de Lanessan ký hợp đồng với Công ty Bazin của Pháp. Sau đó Bazin chuyển nhượng gói thầu để đấu thầu lại.
Nhiều doanh nghiệp lớn tham gia nhưng Công ty thầu An Nam của Tư Hồng giành quyền thực hiện nhờ mức giá thấp nhất. Việc một phụ nữ An Nam vượt qua nhiều nhà thầu có tiềm lực đã gây xôn xao dư luận Bắc thành thời bấy giờ.
Khi triển khai dự án, Tư Hồng trực tiếp tổ chức lực lượng lao động quy mô lớn. Bà về Hà Nam thuê nông dân làm phu, đặt các làng nghề sản xuất dụng cụ thi công như búa chim và xà beng tại làng rèn Hòe Thị (Xuân Phương, Từ Liêm). Xe cút kít được đặt làm từ thợ thủ công, còn lán trại cho công nhân do Bạch Thái Bưởi đảm nhận dựng lên.
Công trình khởi công năm 1894 và hoàn thành sau hơn 2 năm, sớm hơn thời hạn gần 6 tháng. Số vật liệu thu hồi từ tường thành được bà tận dụng để xây dựng nhiều công trình nhà ở tại Hà Nội, gồm biệt thự ở ngõ Hội Vũ và các dãy nhà cho thuê tại Quán Sứ, Hàng Da, Cửa Đông.

Từ nền tảng này, Tư Hồng tiếp tục mở rộng hoạt động sang lĩnh vực xây dựng nhà ở, cầu cống, thầu khoán và buôn bán lúa gạo. Các hãng buôn của bà hoạt động trong nhiều lĩnh vực như vận tải thủy, cung cấp thực phẩm và thương mại. Nhờ những thương vụ thành công liên tiếp, bà trở thành một trong những tư sản giàu có tại Hà Nội đầu thế kỷ XX.
Bên cạnh kinh doanh, Tư Hồng dành một phần tài sản cho hoạt động cứu trợ xã hội. Bà nhiều lần hỗ trợ tù nhân ở Bắc Thành, thậm chí tìm cách vận động giảm án cho một số trường hợp. Khi nhiều địa phương gặp mất mùa hoặc bão lụt, bà tổ chức vận chuyển gạo, ngô đến phát cho người dân.
Trong các năm 1902-1903, khi miền Trung xảy ra mất mùa, thóc lúa khan hiếm, Tư Hồng chở gạo từ Nam ra Bắc. Ban đầu dự định bán, nhưng khi chứng kiến cảnh khó khăn của người dân, bà quyết định dùng số lương thực này để cứu trợ. Ngoài ra, bà còn mổ bò, chia lương thực cho các hộ nghèo và bỏ tiền mua thuốc giúp người bệnh trong thời điểm dịch bệnh hoành hành.
Những hoạt động này khiến bà được triều đình nhà Nguyễn ban tặng bốn chữ “Tiết hạnh khả phong”.
Tuy nhiên, khi ảnh hưởng của Tư Hồng trong giới tư sản bản địa ngày càng lớn, chính quyền thuộc địa bắt đầu chú ý và gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của bà. Doanh nghiệp dần sa sút.
Cuộc đời truân chuyên, không có được người con nào như mong muốn
Cuộc đời của Tư Hồng, dù gắn với sự giàu có và thành đạt, lại chất chứa không ít bi kịch cá nhân. Trải qua 3 đời chồng, bà vẫn không có được người con nào như mong muốn.
Tình cảm gia đình vì thế được bà dồn cả cho người em trai ruột. Khi bà bỏ quê ra đi lập nghiệp, người em vẫn còn nhỏ. Sau khi thành danh, bà đón vợ chồng em trai lên Hà Nội sinh sống cùng trong căn biệt thự tại ngõ Hội Vũ (quận Hoàn Kiếm ngày nay).
Một số giai thoại kể rằng trong thời gian chung sống với người chồng Pháp, bà từng đặt nhiều tình cảm vào cuộc hôn nhân này. Tuy nhiên, theo lời truyền miệng, về sau người chồng dần bộc lộ tính trăng hoa và nhiều thói xấu. Dẫu vậy, bà vẫn lặng lẽ chịu đựng.
Những năm cuối đời, Tư Hồng phải đối mặt với nhiều biến cố. Một số thương vụ làm ăn thất bại khiến tài sản hao hụt, trong khi đời sống tình cảm cũng nhiều muộn phiền. Bà lâm bệnh nặng.
Căn bệnh được nhắc đến trong các giai thoại là bệnh lao - một trong “tứ chứng nan y” của thời bấy giờ, khi y học chưa có phương pháp điều trị hiệu quả.
Trong hoàn cảnh bệnh tình ngày càng suy kiệt, có câu chuyện cho rằng viên quan tư Croibier Huguet tỏ ra ân cần chăm sóc và tìm cách thuyết phục bà ký giấy chuyển nhượng tài sản cho mình. Nhận ra ý đồ của người chồng, bà kiên quyết từ chối và xé bỏ tờ giấy. Trước khi qua đời, bà được cho là đã để lại phần lớn gia sản cho em trai và các cháu.

Một số nguồn tư liệu khác lại cho rằng sau khi chấm dứt cuộc hôn nhân với viên quan Laglan, Tư Hồng sống những năm cuối đời tại một trang trại ở làng Bạch Mai. Khu vực này ngày nay nằm trong phạm vi Đại học Bách khoa Hà Nội.
Không có tư liệu nào xác định chính xác thời điểm và hoàn cảnh qua đời của bà Tư Hồng. Trong ký ức truyền miệng của người Hà Nội, chỉ còn lưu lại câu chuyện về một ngôi mộ nhỏ gần cổng quần thể đền chùa Hai Bà Trưng, trên bia khắc vỏn vẹn ba chữ: “Cô Tư Hồng”.
Dù từng là một trong những người phụ nữ giàu có bậc nhất Hà Nội đầu thế kỷ XX, sự ra đi của bà được cho là lặng lẽ. Những dấu tích vật chất về cuộc đời bà gần như không còn, ngoài một bức ảnh chụp thời kỳ hưng thịnh được lưu giữ tại Bảo tàng Albert Kahn (Pháp).
Anh Khôi - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-07 16:17
Bình luận
0 Bình luận