Chiến lược phát triển ngành sữa đến năm 2045 đặt mục tiêu tăng trưởng tới 14%/năm giai đoạn đầu, mở ra dư địa lớn cho các doanh nghiệp dẫn đầu như Vinamilk và TH True Milk.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn đã ký Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 23/2/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu của Chiến lược là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững, hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ phát triển đàn bò sữa, gia tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Ngành sữa hướng tới đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước, đồng thời tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa khu vực cũng như toàn cầu.
Theo Chiến lược, đến năm 2030, ngành sữa phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12%–14%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm; sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm, đáp ứng khoảng 60%–65% nhu cầu nguyên liệu cho ngành chế biến sữa. Đối với sữa bột, mục tiêu tăng trưởng khoảng 7%–8%/năm, đạt sản lượng khoảng 245 nghìn tấn/năm. Mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa dự kiến đạt khoảng 40 lít/người/năm.
Tầm nhìn đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa duy trì ở mức 5%–6%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm; sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm. Sữa bột tăng trưởng khoảng 3%–4%/năm, với sản lượng đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. Mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa phấn đấu đạt khoảng 100 lít/người/năm; nguồn sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng 80%–85% nhu cầu chế biến.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược định hướng xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa bảo đảm an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, từng bước nâng cao quy mô đàn bò sữa trong nước nhằm tận dụng lợi thế của một quốc gia nông nghiệp, tăng sản lượng sữa tươi phục vụ chế biến, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm sữa.
Phát triển đàn bò sữa được định hướng theo mô hình trang trại tập trung, kết hợp với chăn nuôi hợp tác xã và nông hộ, gắn với mục tiêu hiện đại hóa khu vực nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó, ngành sữa sẽ đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và bao bì.
Chiến lược cũng khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, blockchain và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý đàn bò, truy xuất nguồn gốc và phân phối sản phẩm. Qua đó, nâng cao tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hình thành các sản phẩm chủ lực mang tính đột phá, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Theo IMARC Group, quy mô thị trường sữa Việt Nam đạt 5,71 tỷ USD năm 2024 và dự kiến tăng lên 13,37 tỷ USD vào năm 2033, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 9,5%/năm trong giai đoạn 2025–2033. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhận thức về sức khỏe ngày càng cao, thu nhập bình quân đầu người cải thiện và xu hướng tiêu dùng chuyển dịch sang các sản phẩm dinh dưỡng có nguồn gốc rõ ràng.
Song song đó, các chính sách phát triển tầm vóc người Việt, dòng vốn đầu tư nước ngoài và sự mở rộng của mạng lưới bán lẻ hiện đại đang góp phần gia tăng quy mô sản xuất và khả năng tiếp cận của các thương hiệu nội địa.

Hiện nay, Vinamilk vẫn là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, chiếm gần 50% thị phần vào cuối năm 2024. Sau khi sụt giảm một phần thị phần trong quý I/2025 do các vấn đề liên quan đến hệ thống phân phối, doanh nghiệp đang tập trung củng cố lại vị thế, đặc biệt ở phân khúc sữa nước, trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng từ các đối thủ như TH True Milk.
Năm 2026, Vinamilk đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu 4%–6% tại thị trường trong nước và khoảng 15% tại thị trường xuất khẩu. Lợi nhuận sau thuế dự kiến tăng 2%–4% so với năm trước.
Về dài hạn, Vinamilk tiếp tục chuyển dịch sang các sản phẩm cao cấp, tập trung vào dòng sản phẩm giá trị gia tăng và dinh dưỡng chức năng, phục vụ đa dạng nhóm khách hàng từ trẻ sơ sinh đến người cao tuổi. Doanh nghiệp đồng thời đẩy mạnh tái định vị thương hiệu, cao cấp hóa danh mục sản phẩm và ứng dụng công nghệ, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm tối ưu chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Thu Huyền - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận