Kinh tế thế giới

'Quái vật' 2.000 tỷ USD phình to: Ai sẽ trả hóa đơn nợ khổng lồ của thế giới?

Nợ công toàn cầu đã lên tới 94% GDP thế giới trong năm ngoái, tăng hơn 10 điểm phần trăm so với năm trước đại dịch. IMF hiện dự báo con số này sẽ chạm 100% vào cuối thập niên này.

Các Chính phủ trên toàn thế giới đang phải đối mặt với một “quái vật” nợ trị giá 2.000 tỷ USD. Chi phí trả lãi và phục vụ các khoản nợ ngày càng lớn đang ngốn một phần đáng kể nguồn thu thuế, gây sức ép mạnh lên ngân sách và khiến các Chính phủ ngày càng khó đưa ra những quyết định chi tiêu.

Hiện nay, chi phí phục vụ nợ quốc gia tại Anh, Pháp và Mỹ đã cao hơn chi tiêu quốc phòng; điều tương tự cũng xảy ra tại hơn một chục quốc gia trong số 38 thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Vấn đề của họ là chi phí vay đã tăng lên mức cao nhất trong gần hai thập niên, đúng vào thời điểm các Chính phủ đang gánh lượng nợ kỷ lục.

Tổng số nợ của Chính phủ Mỹ đã chạm mức kỷ lục 40.000 tỷ USD vào tháng trước. Trong năm nay, các nước OECD dự kiến sẽ cùng nhau vay 18.000 tỷ USD, cũng là mức cao chưa từng có. Năm 2025, tổng chi phí phục vụ nợ của nhóm này đã vượt 2.000 tỷ USD, tương đương 3% GDP.

Con số này sẽ còn tăng trong những năm tới do làn sóng bán tháo trái phiếu đã đẩy lợi suất tăng kể từ cuộc khủng hoảng Covid-19, qua đó làm chi phí nợ của các Chính phủ trên toàn thế giới tăng lên.

“Những khoản nợ Chính phủ khổng lồ này đang phải được tái cấp vốn với mức lãi suất ngày càng cao. Các nhà đầu tư toàn cầu đã bắt đầu lo sợ”, Mike Riddell, nhà quản lý quỹ tại Fidelity International, nhận định.

Làn sóng bán tháo trên thị trường trái phiếu toàn cầu trong mùa hè chỉ càng làm trầm trọng thêm xu hướng lợi suất tăng mạnh sau Covid-19 - xu hướng bắt nguồn từ các cú sốc lạm phát, việc Chính phủ gia tăng vay nợ và chấm dứt các chương trình mua trái phiếu theo chính sách “nới lỏng định lượng” (QE) của các Ngân hàng Trung ương.

Screenshot 2026-09-08 154538
Nợ công của Mỹ đã tăng vọt trong hơn 3 thập niên

Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm chuẩn bình quân của nhóm G7 đã lên 4% lần đầu tiên kể từ năm 2008, trong bối cảnh xuất hiện lo ngại về tác động lạm phát của cuộc chiến với Iran cũng như lượng nợ khổng lồ mà cả khu vực công lẫn tư nhân - đặc biệt là các tập đoàn công nghệ - đang tìm cách huy động.

Một số nhà kinh tế phản biện rằng lợi suất trái phiếu Mỹ, đặc biệt, đang bị đẩy lên bởi kỳ vọng tăng trưởng được cải thiện. Điều này đồng nghĩa lãi suất trong tương lai có thể không cần phải xuống quá thấp để hỗ trợ nền kinh tế.

Nếu kinh tế tăng trưởng mạnh, đó có thể là “lối thoát” cho nhiều quốc gia: Tăng trưởng sẽ giúp nguồn thu thuế tăng lên, giảm bớt gánh nặng nợ và giúp Chính phủ có thêm dư địa chi tiêu cho những lĩnh vực khác thay vì phải dành quá nhiều tiền để trả lãi.

Nhưng ở thời điểm hiện tại, bức tranh lại hoàn toàn khác.

Đối với những nền kinh tế lớn, nợ cao nhưng tăng trưởng thấp như Anh và Pháp, chi phí phục vụ nợ đã buộc các Chính phủ phải đối mặt trực diện với bài toán quản lý tài chính công.

Tại Anh, cú tăng mạnh của lợi suất trái phiếu đã góp phần khiến cựu Thủ tướng Liz Truss mất chức vào năm 2022, sau khi Chính phủ công bố một “ngân sách mini” với các biện pháp cắt giảm thuế nhưng không có nguồn tài chính bù đắp. Tuy nhiên, lợi suất hiện còn cao hơn thời điểm đó: Anh đang phải chi khoảng 110 tỷ bảng mỗi năm để trả lãi nợ.

Trong khi đó, Pháp đã thay ba Thủ tướng kể từ cuộc bầu cử Quốc hội năm 2024, một phần do những áp lực tài khóa bắt nguồn từ chi phí nợ.

Tại cả hai nước, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, các chính trị gia đang phải đối mặt với một lựa chọn căn bản: Tăng thuế hay thu hẹp quy mô nhà nước để thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan hiện nay.

Quy mô khổng lồ của chi phí phục vụ nợ cũng khiến các quốc gia gần như không thể tăng chi tiêu cho những ưu tiên chiến lược như quốc phòng và an ninh năng lượng.

Nếu lãi nợ là một Bộ trong Chính phủ, thì đây sẽ là Bộ lớn thứ hai tại Whitehall, chỉ sau Y tế; lớn hơn cả Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Tư pháp cộng lại. Không có gì gọi là tiến bộ khi Chính phủ phải dành 1 trong mỗi 10 bảng để trả lãi nợ.

John Healey, Bộ trưởng Tài chính mới của Anh

Vì sao lợi suất đang tăng?

Cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, lãi suất tại các nền kinh tế lớn tương đối cao, nhưng mức nợ nhìn chung thấp hơn nhiều. Sau đó, nợ tăng vọt, song lãi suất được duy trì ở mức thấp nhờ các biện pháp khẩn cấp của Ngân hàng Trung ương cũng như tăng trưởng kinh tế yếu.

Giờ đây, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với một sự kết hợp đặc biệt khó khăn: Nợ kỷ lục và chi phí vay cao.

Mặc dù các Chính phủ vẫn tìm được đủ người mua trái phiếu, nhà đầu tư đang đòi hỏi mức lợi suất cao hơn để đổi lấy việc cho Chính phủ vay tiền. Các đợt phát hành trái phiếu mới trong những tháng gần đây tại Anh, Mỹ và nhiều nước khác đã khóa mức lợi suất cao nhất trong gần hai thập niên đối với các khoản nợ có kỳ hạn dài.

Xu hướng này còn được đẩy nhanh bởi những thay đổi trong các hệ thống lương hưu ở một số quốc gia, khiến những nhà đầu tư dài hạn truyền thống rút lui và được thay thế bởi các quỹ đầu cơ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn - nhóm có thể nhanh chóng yêu cầu lợi suất cao hơn.

“Kỷ nguyên tiền miễn phí chắc chắn đã kết thúc. Thị trường trái phiếu hiện đang đòi hỏi kỷ luật”, Kim Crawford, nhà quản lý thu nhập cố định toàn cầu tại JPMorgan Asset Management, nói.

Đặc điểm của thị trường nợ Chính phủ - nơi Chính phủ huy động vốn thông qua các khoản vay có nhiều kỳ hạn khác nhau, trong đó một số khoản chỉ đáo hạn sau hàng chục năm - khiến tác động của chi phí vay tăng lên chi phí lãi vay diễn ra dần dần theo thời gian.

Nhưng hướng đi của xu thế này dường như đã khá rõ ràng.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) ước tính chi phí nợ của Mỹ sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới và, nếu xu hướng hiện tại tiếp diễn, sẽ vượt chi tiêu cho An sinh Xã hội sau năm 2047.

Gánh nặng đối với các quốc gia khác - vốn thường khó thuyết phục nhà đầu tư mua trái phiếu với những điều kiện thuận lợi như Mỹ - nhiều khả năng còn lớn hơn.

Những nguyên nhân dẫn tới vấn đề tài chính công mang tính căn cơ và kéo dài trong nhiều năm. Trong đó có sự gia tăng chi tiêu để chống lại suy thoái do Covid-19 và các cuộc khủng hoảng năng lượng, bên cạnh những thách thức tài khóa rộng hơn kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm.

Nợ công toàn cầu đã lên tới 94% GDP thế giới trong năm ngoái, tăng hơn 10 điểm phần trăm so với năm trước đại dịch. IMF hiện dự báo con số này sẽ chạm 100% vào cuối thập niên này.

Làn sóng bán tháo trái phiếu trong mùa hè đã khiến vấn đề càng nghiêm trọng.

Các áp lực lạm phát do cuộc chiến với Iran gây ra, ban đầu thể hiện rõ nhất ở giá năng lượng, đã buộc các Ngân hàng Trung ương chuyển hướng sang tăng lãi suất. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã tăng lãi suất vào tháng 6 lần đầu tiên kể từ năm 2023 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong tuần này, trong khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh đã bắt đầu phát tín hiệu về khả năng tăng lãi suất ngay trong tháng này.

Một số nhà đầu tư cho rằng sự bất định về lạm phát đang góp phần đẩy lãi suất dài hạn lên cao, khi thị trường đòi hỏi mức bù cao hơn để cho Chính phủ vay trong thời gian dài.

Những người khác cho rằng lợi suất tăng chủ yếu phản ánh lo ngại về nguồn cung nợ ngày càng lớn, không chỉ từ các Chính phủ mà ngày càng nhiều từ khu vực doanh nghiệp.

Theo Viện Tài chính Quốc tế (IIF), tổng quy mô nợ của Chính phủ và doanh nghiệp trên toàn cầu đang tiến gần 300.000 tỷ USD. “Đang có sự cạnh tranh khổng lồ giữa khu vực tư nhân và khu vực công để giành cùng một nguồn tiết kiệm”, Gilles Moëc, Kinh tế trưởng tại tập đoàn bảo hiểm Axa, nói.

Ông đối chiếu tình hình hiện nay - thâm hụt ngân sách lớn và đầu tư vốn tăng vọt - với thời kỳ bùng nổ công nghệ đầu những năm 2000, khi thâm hụt tài khóa được kiểm soát tốt hơn.

Những lo ngại về giới hạn trong khả năng thị trường sẵn sàng tài trợ cho một lượng nợ lớn đến mức chưa từng có còn đi kèm với nỗi lo của các nhà đầu tư về việc các Chính phủ phát triển không sẵn lòng kiềm chế vay nợ.

Chẳng hạn, thâm hụt tài khóa của Mỹ được IMF dự báo sẽ duy trì trên 7% GDP cho tới tận thập niên 2030, bất chấp tăng trưởng tương đối ổn định và tỷ lệ thất nghiệp hiện chỉ ở mức 4,1%.

Một số nhà đầu tư cho rằng biến động chính trị đã khiến chi phí lãi nợ cao hơn mức đáng lẽ phải trả - hiện tượng đôi khi được gọi là “phần bù ngu ngốc” (moron premium).

Tại châu Âu, tình trạng mong manh về chính trị kể từ năm 2022 đã làm tăng thêm khoảng 100 tỷ euro chi phí lãi vay cho Anh, Italy, Pháp, Tây Ban Nha và Bỉ, theo ước tính của hãng bảo hiểm Allianz.

Một phần mức tăng lợi suất trong năm nay có thể là do nhà đầu tư đang đòi hỏi khoản bù để bù đắp cho những biến động chính trị có thể xảy ra trong tương lai.

Một yếu tố khác gây bất ổn cho thị trường trái phiếu năm nay là diễn biến tại Nhật Bản - quốc gia trong thời gian dài đóng vai trò “mỏ neo” giúp kiềm chế chi phí vay trên toàn cầu nhờ chế độ lãi suất âm và nhu cầu rất lớn đối với tài sản nước ngoài.

Giờ đây, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đang tăng lãi suất đúng lúc Thủ tướng Sanae Takaichi công khai ủng hộ việc tăng chi tiêu kích thích kinh tế của Chính phủ.

Khi chi phí vay của Tokyo tăng lên mức chưa từng thấy kể từ những năm 1990, các nhà đầu tư lo ngại rằng lợi suất cao hơn tại Nhật Bản sẽ hút dòng tiền quay trở lại thị trường trong nước, qua đó đẩy chi phí vay tại các thị trường khác lên theo.

Bị mắc kẹt trong “vòng xoáy tử thần”?

Một trong những mối lo lớn nhất của các nhà đầu tư là một số quốc gia có thể đang tiến gần đến một vòng luẩn quẩn, trong đó chi phí nợ tăng khiến triển vọng tài khóa ngày càng xấu đi.

Trong kịch bản “vòng xoáy tử thần” này, quy mô khổng lồ của khoản lãi mà Chính phủ phải trả làm suy yếu tình hình tài chính, khiến nợ tiếp tục tăng. Điều đó lại khiến nhà đầu tư đòi hỏi lợi suất cao hơn, qua đó tiếp tục đẩy chi phí phục vụ nợ lên cao.

Nếu không được cứu bởi lãi suất thấp hơn hoặc một cú hích tăng trưởng mạnh, các Chính phủ chỉ còn hai lựa chọn: Tăng nguồn thu thuế hoặc cắt giảm chi tiêu.

Nhưng thị trường ngày càng lo ngại rằng trong nhiều trường hợp, các biện pháp cắt giảm khó khăn về mặt chính trị là điều không thể thực hiện - dù đó là việc kiềm chế chi tiêu phúc lợi tại Anh hay cắt giảm tổng chi tiêu Chính phủ tại Mỹ.

Trên thực tế, Tổng thống Donald Trump muốn nâng ngân sách quốc phòng Mỹ lên 1.500 tỷ USD, mức tăng lớn nhất kể từ Thế chiến II.

Các chính trị gia “không muốn đưa ra những lựa chọn khó khăn này vì họ biết rằng nếu làm vậy, họ sẽ bị cử tri loại bỏ trong cuộc bầu cử tiếp theo”, Neil Mehta, nhà quản lý danh mục đầu tư tại RBC BlueBay Asset Management, nói. “Tôi không biết vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào.”

Tại Mỹ, viễn cảnh quyền lực bị chia rẽ ở Washington sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11, khi đảng Dân chủ tự tin giành lại ít nhất Hạ viện, có thể khiến việc kiểm soát thâm hụt càng khó khăn hơn, bất chấp cam kết của chính quyền về kỷ luật tài khóa.

Trong một cuộc phỏng vấn với CNBC vào tháng trước, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết “có khả năng rất, rất cao” chính quyền đã đi qua đỉnh thâm hụt ngân sách, đồng thời chỉ ra những nỗ lực tiết kiệm ngân sách, chẳng hạn như xử lý gian lận.

Nỗi lo xung quanh mức nợ của Mỹ đang lan sang các thị trường toàn cầu và ảnh hưởng đến những quốc gia vay nợ khác được coi là đặc biệt dễ tổn thương - trong đó có các “đối tượng tái phạm” như Anh, Italy và Pháp, theo David Rees, Trưởng bộ phận kinh tế tại công ty quản lý tài sản Schroders.

Một số nhà đầu tư năm nay đã gọi ba nước này là “Bifs”, viết tắt của tên ba quốc gia và hàm ý về mức nợ cao cũng như khả năng dễ tổn thương trước cú sốc năng lượng.

Vị thế của đồng USD với tư cách tài sản dự trữ hàng đầu thế giới đồng nghĩa nhiều nhà đầu tư gần như không có lựa chọn nào khác ngoài việc mua trái phiếu Kho bạc Mỹ. Tuy nhiên, các Bộ trưởng tài chính của những quốc gia khác có thể sẽ phải làm nhiều hơn Mỹ để lập lại trật tự cho tài chính công.

“Không ai kỳ vọng vào phép màu” trong việc cắt giảm thâm hụt, Moëc của Axa nói. Tuy nhiên, các quốc gia cần chứng minh rằng họ có thể đưa hoặc duy trì thâm hụt tổng thể trên xu hướng giảm, ngay cả khi Mỹ khó có khả năng làm được điều đó.

Một phép thử quan trọng đối với Anh sẽ đến vào tháng tới, với ngân sách đầu tiên kể từ khi Andy Burnham trở thành thủ tướng vào tháng 7.

gettyimages-2289926241.jpg
Ông Andy Burnham

Chi phí nợ cao hơn, bao gồm cả khoản chi phí phát sinh từ lượng lớn trái phiếu liên kết với lạm phát mà Anh đang nắm giữ, đang tiêu tốn nguồn lực vào đúng thời điểm Chính phủ chịu áp lực phải cải thiện dịch vụ công và thực hiện cam kết tăng chi tiêu quốc phòng.

Điều này đã làm dấy lên đồn đoán rằng Chính phủ sẽ cần thêm một đợt tăng thuế nữa, bên cạnh các ngân sách đã tăng thu đáng kể trong năm 2024 và 2025.

Các nhà đầu tư lạc quan cho rằng Anh, không giống một số quốc gia khác, đã đưa ra những quyết định khó khăn. Lượng phát hành nợ gộp thực tế đang giảm trong năm tài khóa này.

Tuy nhiên, chi phí vay của Anh hiện cao nhất trong nhóm G7 và chi tiêu cho lãi nợ được dự báo sẽ lên gần 4% GDP vào năm 2030-31, gần gấp đôi tỷ trọng trong những năm trước đại dịch.

Pháp cũng đang chịu sức ép tương tự trên các thị trường vốn. Khoảng chênh lệch giữa chi phí vay kỳ hạn 10 năm của Pháp và trái phiếu Chính phủ Đức - tài sản được xem là cực kỳ an toàn và là thước đo quan trọng về mức độ lo ngại đối với tài chính của Paris - đã tăng lên khoảng 0,9 điểm phần trăm, gần mức cao nhất kể từ giai đoạn hậu khủng hoảng nợ Khu vực đồng Euro.

Một số ngân hàng Phố Wall đã hạ dự báo về tài chính công của Pháp. Morgan Stanley hiện cho rằng thâm hụt tài khóa của nước này có thể lên tới 5,4% GDP trong năm nay, cao hơn đáng kể so với mục tiêu 5% của chính phủ.

“Yếu tố quan trọng khiến thâm hụt tăng là mức tăng mạnh của các khoản thanh toán lãi”, các chuyên gia phân tích của ngân hàng này nhận định.

Việc hành động quyết liệt để kiềm chế vay nợ vẫn rất khó khăn trong bối cảnh tăng trưởng èo uột và thách thức từ đảng cực hữu Rassemblement National trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 4/2027.

Các chính trị gia hiện nay đang bị buộc phải đưa ra “những đánh đổi trực tiếp giữa các lĩnh vực chi tiêu có tầm quan trọng sống còn và hóa đơn lãi nợ. Chi phí lãi nợ đang trực tiếp hạn chế chính sách tài khóa”, Carmine Di Noia, Giám đốc phụ trách các vấn đề tài chính và doanh nghiệp của OECD, nói.

Các cơ quan quản lý nợ tại Anh, EU và nhiều nơi khác đã phản ứng trước việc lãi suất dài hạn tăng bằng cách phát hành thêm trái phiếu ngắn hạn - loại trái phiếu thường có lợi suất thấp hơn và do đó ít tốn kém hơn đối với người nộp thuế.

Mỹ cũng đi theo hướng này và đồng thời công bố kế hoạch tăng quy mô mua lại các khoản nợ dài hạn. Tuy nhiên, rút ngắn kỳ hạn bình quân của nợ chỉ là một “giải pháp nhanh”, Eiko Sievert, Giám đốc điều hành phụ trách xếp hạng tín nhiệm quốc gia tại Scope Ratings, nói.

“Bất kỳ cú sốc nào xảy ra cũng sẽ chuyển thành chi phí lãi vay của chính phủ nhanh hơn rất nhiều”.

Các Ngân hàng Trung ương cũng đang chịu áp lực phải hành động.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã kêu gọi Fed giảm lãi suất để hỗ trợ xử lý nợ quốc gia. Một số chuyên gia cho rằng kinh tế toàn cầu đã bước vào một thời kỳ mới của “sự chi phối tài khóa” (fiscal dominance), trong đó các cơ quan tiền tệ chịu sức ép duy trì lãi suất thấp để bù đắp cho chính sách ngân sách nới lỏng.

Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) vẫn tiếp tục bán trái phiếu thông qua chương trình “thắt chặt định lượng” nhằm thu hẹp bảng cân đối kế toán, qua đó tạo áp lực tăng chi phí vay.

Tuy nhiên, BoE được dự báo sẽ giảm tốc độ bán trong tháng này, và một số chuyên gia cho rằng ngân hàng nên hoàn toàn dừng bán các trái phiếu dài hạn.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ), vốn vẫn tiếp tục mua tài sản, đã giảm quy mô các giao dịch mua vào nhưng dự kiến sẽ dừng việc cắt giảm này vào năm tới và giữ quy mô mua ở mức ổn định.

5fda7c09dff556d0858a35f7c8a6bae2fd49fd4b.png
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ)

Thoát khỏi chiếc lồng nợ

Các quốc gia có thể làm gì để thoát khỏi chiếc lồng nợ?

Một lựa chọn là cái gọi là “đàn áp tài chính” - những biện pháp buộc các tổ chức trong nước mua thêm trái phiếu của chính quốc gia mình nhằm hỗ trợ nhu cầu và kéo lợi suất xuống.

Một kết cục tích cực hơn sẽ là tăng trưởng năng suất đáng kể, được thúc đẩy bởi cuộc cách mạng AI. Điều này, đến lượt nó, sẽ giúp gánh nặng nợ của Chính phủ trở nên dễ quản lý hơn nhiều.

Tại Anh, Văn phòng Trách nhiệm Ngân sách (OBR), cơ quan giám sát tài khóa của nước này, gần đây cho biết trong một “kịch bản năng suất cao”, gánh nặng nợ của Anh tính theo tỷ trọng GDP vào năm 2075 sẽ chỉ bằng hơn một nửa so với dự báo cơ sở - dù vẫn ở mức đáng ngại, khoảng 180%.

Một số người hoài nghi rằng “đội quân tăng trưởng” sẽ có thể giải cứu toàn bộ các nền kinh tế giàu khỏi những bài toán ngân sách.

Đối với những quốc gia mà ông gọi là “ca bệnh nặng” như Anh và Pháp, Mehta của RBC BlueBay cho rằng “các vấn đề về tăng trưởng mang tính cơ cấu nhiều hơn. Tôi không cho rằng đây là giải pháp trước mắt. Các bạn thực sự phải cắt giảm chi tiêu”.

Lịch sử cho thấy cuối cùng các Chính phủ sẽ phải làm điều đó.

Trong một nghiên cứu năm 2013 xem xét kinh nghiệm của 55 quốc gia trong khoảng thời gian kéo dài tới hai thế kỷ, các nhà kinh tế IMF nhận thấy rằng “chi phí vay nợ Chính phủ tăng lên sẽ thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách thắt chặt chính sách tài khóa để ứng phó”.

Anh từng vượt qua những gánh nặng nợ còn lớn hơn.

Sau những tàn phá của Thế chiến II, núi nợ của Anh từng lên tới mức kỷ lục khoảng 250% GDP. Tuy nhiên, việc kiềm chế chi tiêu và tăng trưởng kinh tế, được hỗ trợ bởi làn sóng nhập cư, đã giúp tỷ lệ này giảm mạnh.

Một lựa chọn khác là con đường Canada từng đi vào những năm 1990, khi Chính phủ nước này đối phó với thâm hụt ngân sách khổng lồ bằng những biện pháp cắt giảm chi tiêu đau đớn.

“Nếu chuẩn bị tốt, người dân sẽ hiểu. Họ sẽ không tiếp tục ủng hộ bạn nếu họ cảm thấy sự hy sinh mà bạn yêu cầu ở họ sẽ không mang lại kết quả”, Paul Martin, khi đó là Bộ trưởng Tài chính Canada, sau này nói với FT.

Tại Anh, một số nhà đầu tư cho rằng tăng thuế là cách tốt hơn để thu hẹp khoảng cách ngân sách, miễn là Chính phủ có thể tránh những biện pháp làm lạm phát tăng thêm.

Nhưng tại nhiều quốc gia, việc tiếp tục cắt giảm chi tiêu hoặc áp thêm thuế lên các hộ gia đình và doanh nghiệp đang phải vật lộn với một cú sốc chi phí sinh hoạt mới sẽ gây ra cái giá chính trị cực kỳ lớn.

“Vấn đề là thị trường không nhìn thấy ý chí chính trị đủ mạnh để khiến mọi thứ vận hành và kiềm chế [nợ]. Nếu không kiềm chế được, tình hình sẽ ngày càng tồi tệ. [Khi đó] cuối cùng nó sẽ phải kết thúc bằng một cuộc khủng hoảng”, Tatjana Greil-Castro, người đứng đầu toàn cầu về đầu tư tại Muzinich, nói.

Tú Linh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-09-08 15:52