Vĩ mô

Tăng trưởng 10%: Phải giải được bài toán huy động vốn

Tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi quy mô vốn đầu tư toàn xã hội tới khoảng 40% GDP. Trong bối cảnh đó, bài toán huy động vốn bền vững đang trở thành “nút thắt” lớn nhất của nền kinh tế.

Sau giai đoạn phục hồi, Việt Nam bước vào chu kỳ tăng trưởng mới với tham vọng đạt mức GDP hai chữ số. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 được ước tính cần tiệm cận 40% GDP, đòi hỏi quy mô và chất lượng dòng vốn cao hơn đáng kể so với trước đây.

Thị trường vốn chưa trở thành kênh huy động hiệu quả đối với DNNVV
Muốn tăng trưởng 10%, nhưng vốn đang là “nút thắt” lớn nhất.

Tuy nhiên, theo báo cáo “Định vị Nguồn vốn cho Mục tiêu Tăng trưởng cao 2026–2030” của FiinGroup, nền kinh tế vẫn đối mặt với khoảng trống lớn về vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển.

Mô hình tăng trưởng hiện nay tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi dư địa mở rộng đang thu hẹp nhanh. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 146%. Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng 16%/năm nhằm hỗ trợ mục tiêu GDP tăng 8–10%/năm, tỷ lệ này có thể vượt 180% vào cuối thập kỷ và tiệm cận hoặc vượt 200% sau năm 2030.

Theo các chuyên gia FiinGroup, mức đòn bẩy như vậy vượt xa ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và sức chống chịu của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh hệ số an toàn vốn (CAR) chịu áp lực, rủi ro tài sản tích tụ và yêu cầu kiểm soát lạm phát gia tăng, việc tiếp tục dựa vào mở rộng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng cao không còn là lựa chọn bền vững.

Hạn chế còn thể hiện ở cơ cấu tín dụng khi hơn 55% dư nợ là cho vay ngắn hạn, trong khi tỷ trọng cho vay trung – dài hạn gần như không cải thiện từ năm 2022 đến nửa đầu năm 2025. Điều này cho thấy sự lệch pha giữa nhu cầu vốn trung – dài hạn của khu vực sản xuất, đầu tư với khả năng cung ứng của hệ thống ngân hàng. Theo FiinGroup, ngân hàng có thể hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng khó đóng vai trò trụ cột vốn dài hạn cho mục tiêu tăng trưởng cao và kéo dài.

Cơ cấu nguồn vốn huy động cũng là điểm nghẽn khi khoảng 90% tiền gửi tại các ngân hàng thương mại là ngắn hạn. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn đang tiệm cận trần quy định của Ngân hàng Nhà nước, khiến dư địa mở rộng tín dụng dài hạn bị thu hẹp về mặt thanh khoản và an toàn hệ thống.

Trong bối cảnh đó, đa dạng hóa các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng được xem là điều kiện cần để hỗ trợ đầu tư tư nhân và giảm áp lực lên hệ thống tín dụng. FiinGroup cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thị trường vốn một cách quyết liệt và đồng bộ, kích hoạt các nguồn vốn chiến lược như trái phiếu doanh nghiệp, vốn vay quốc tế và huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán.

Với kênh trái phiếu doanh nghiệp, trong bối cảnh chính sách tiền tệ kcòng còn nới lỏng mạnh như trước và nhu cầu vốn trung – dài hạn gia tăng, doanh nghiệp buộc phải đa dạng hóa nguồn huy động thay vì phụ thuộc vào ngân hàng. Kênh này cũng được kỳ vọng hưởng lợi từ các điều chỉnh chính sách, như hoàn thiện khung pháp lý cho dự án hạ tầng, bất động sản và làm rõ mục đích sử dụng vốn đối với trái phiếu riêng lẻ trong dự thảo nghị định sửa đổi.

Cơ sở nhà đầu tư trái phiếu cũng đang được mở rộng thông qua việc nới lỏng điều kiện cho quỹ đầu tư, công ty chứng khoán, đồng thời cải thiện chính sách phát triển quỹ hưu trí tự nguyện và hình thành các mô hình mới như quỹ bảo lãnh trái phiếu, quỹ hạ tầng.

Đối với vốn vay quốc tế, sau ba năm sụt giảm do môi trường lãi suất toàn cầu ở mức cao, nhu cầu được kỳ vọng phục hồi từ năm 2026. Nền tảng vĩ mô với tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài ở mức thấp tạo dư địa để Việt Nam quay lại khai thác thị trường vốn quốc tế, cả ở cấp Chính phủ và doanh nghiệp. Việc sửa đổi quy định phát hành trái phiếu quốc tế, tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán và mục tiêu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư trước năm 2030 được xem là những yếu tố hỗ trợ quan trọng.

Ở kênh chứng khoán, huy động vốn cổ phần năm 2025 đạt khoảng 150,5 nghìn tỷ đồng (tương đương 5,7 tỷ USD), vượt đỉnh năm 2021. Dù vậy, xét trên tương quan với quy mô nền kinh tế, vốn cổ phần vẫn chỉ chiếm dưới 5% tổng nhu cầu vốn trung – dài hạn trong 5 năm gần đây, cho thấy dư địa tăng trưởng còn lớn.

Sau khi bán ròng kỷ lục trong năm 2025, khối ngoại đã quay lại mua ròng hơn 1,1 nghìn tỷ đồng cổ phiếu Việt Nam từ đầu năm 2026 đến ngày 13/1/2026. Dù cần thêm thời gian để đánh giá tính bền vững, diễn biến này phần nào cho thấy tín hiệu cải thiện về tâm lý thị trường. Trong trung hạn, dòng vốn ngoại được kỳ vọng quay trở lại theo hướng chọn lọc và dài hạn hơn, góp phần giảm áp lực tỷ giá và củng cố cân bằng vĩ mô.

Bên cạnh yếu tố chu kỳ, các động lực mang tính cấu trúc như làn sóng IPO đa ngành, kế hoạch thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp quy mô lớn từ năm 2026 và tiến trình nâng hạng thị trường cũng được kỳ vọng mở rộng nguồn hàng chất lượng, thu hút dòng vốn tổ chức dài hạn, đặc biệt là vốn ngoại, trở lại thị trường một cách bền vững.

Khúc Văn - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư