Xuất khẩu Việt Nam năm 2025 đạt kỷ lục mới nhưng phần lớn tăng trưởng đến từ FDI.

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý trong đó là hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam tiếp tục ghi nhận một mốc kỷ lục mới. Cột mốc này phản ánh sự phục hồi và mở rộng mạnh mẽ của hoạt động thương mại.
Cụ thể, theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), Việt Nam lần đầu ghi nhận kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục trên 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với 2024.
3/4 kim ngạch xuất khẩu thuộc về khối FDI
Lũy kế cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước. Trong cơ cấu xuất khẩu, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch. Ngược lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm tới 77,3% tổng giá trị xuất khẩu.
Tính ra, cứ hơn 4 đồng xuất khẩu, thì có tới 3 đồng đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Điểm đáng chú ý này cũng từng được Bộ phận phân tích Công ty chứng khoán PSI chỉ ra trong báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2026.
PSI nhận định xuất khẩu trong năm 2026 sắp tới với động lực chính vẫn đến từ nhóm doanh nghiệp FDI. PSI cũng chỉ rõ, doanh nghiệp nội địa sản xuất hàng dệt may, da giày, thuỷ sản và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp khác có thể phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn.
Thực tế này phản ánh rõ bởi thực tế khi 5 ngày trước khi năm 2025 khép lại, một doanh nghiệp dệt may với hơn 2.700 công nhân ở khu công nghiệp Mỹ Phước, phường Bến Cát (TP HCM) thông báo ngừng hoạt động do không tìm được đơn hàng mới.

Thực tế đó không phải là cá biệt. Trong năm 2025 vừa qua, thuế quan Mỹ đã giáng một đòn mạnh vào hoạt động xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam.
Đại diện một nhà máy hiện vận hành đồng thời các khâu kéo sợi, dệt vải và sản xuất may mặc tại Việt Nam cho biết thị trường trong những tháng cuối năm đã có dấu hiệu tích cực hơn, song tốc độ tăng trưởng vẫn chậm khi khối lượng đơn hàng chỉ tăng nhẹ hoặc đi ngang, tùy theo từng nhóm sản phẩm.
Không chỉ dệt may gặp khó với vấn đề xuất khẩu, ông Lê Anh, Giám đốc Công ty TNHH Thực phẩm & Thương mại dịch vụ Lê Gia cho biết, doanh nghiệp mất gần 2 năm kể từ khi đối tác Nhật Bản sang thăm, đánh giá nhà máy, đến khi có đơn hàng đầu tiên. Đơn hàng nhỏ, chi phí kiểm nghiệm và logistics cao, tính toán tài chính cho thấy lỗ. Doanh nghiệp vẫn làm, coi đó là khoản đầu tư để “mua” tiêu chuẩn và giữ mối quan hệ.
Với nhiều doanh nghiệp nông sản quy mô nhỏ và vừa, đặc biệt là OCOP, xuất khẩu không khởi đầu bằng container đầy, mà bằng những lô hàng thử khiến đôi khi giá trị kinh tế vẫn còn chưa đáng kể, dù nhìn ở góc độ tích cực thì sản phẩm khi đó sẽ được kiểm chứng trong điều kiện thật, bởi người mua thật.
Cách làm của các doanh nghiệp nội địa kiên trì xuất khẩu là giữ thị trường thay vì chạy theo tăng sản lượng. Khi đã có một đầu mối nhập khẩu, dù đơn hàng nhỏ và tần suất chưa cao, doanh nghiệp tập trung duy trì chất lượng ổn định và giao hàng đúng cam kết.
Những câu chuyện trên cho thấy, phía sau kỷ lục xuất khẩu cán mốc gần 500 tỷ USD là một bức tranh phân hóa rõ nét: trong khi khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò đầu tàu, thì doanh nghiệp nội địa vẫn loay hoay với bài toán đơn hàng, chi phí và tiêu chuẩn thị trường, khiến tỷ trọng đóng góp chưa thể cải thiện một cách bền vững.
Năng lực xuất khẩu nội địa đang suy yếu so với khu vực FDI
Thực tế, khi nhìn vào cơ cấu đóng góp xuất khẩu của các khu vực doanh nghiệp và mặt hàng, bức tranh hiện ra các "nốt trầm". Doanh nghiệp nội địa và sản phẩm truyền thống ngày càng chịu áp lực lớn về đầu ra.
Đây không phải là diễn biến bất ngờ mà nằm trong xu hướng tăng đều qua nhiều năm. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, giai đoạn 2001 - 2005 là 57,8 tỷ USD, 2006 - 2010 là 154,9 tỷ USD, bằng 2,67 lần, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (kể cả dầu thô). Đến năm 2015, doanh nghiệp FDI vẫn thống trị xuất khẩu của Việt Nam, tỷ lệ này đã tăng lên khoảng 70% tổng kim ngạch cả nước, sau đó duy trì quanh 73-74% trong những năm gần đây.

Việc tỷ trọng năm nay tăng lên hơn 77% phản ánh sự mở rộng liên tục của khu vực doanh nghiệp nước ngoài trong các ngành hàng xuất khẩu quan trọng.
Nhóm phân tích vĩ mô của Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) bình luận bức tranh ngoại thương "ấn tượng nếu nhìn từ xa", nhưng bóc tách thì phần lớn thành tích đến từ khu vực doanh nghiệp ngoại. "Điều này cho thấy năng lực xuất khẩu nội địa đang suy yếu tương đối so với khu vực FDI", báo cáo của SHS nêu.
Nhìn chung, tổng kim ngạch tăng nhưng "sức khỏe bên trong" đáng quan tâm khi tỷ trọng giá trị nội địa mỏng dần.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào FDI, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu giá trị cao, còn phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, năng lực thiết kế, marketing và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh vẫn hạn chế, khiến sản xuất và xuất khẩu dễ tổn thương.
Cùng nhìn nhận về bức tranh xuất khẩu, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân) đánh giá, động lực tăng trưởng xuất khẩu và thu hút FDI đến từ nhiều yếu tố: cải cách trong nước về môi trường đầu tư, thủ tục pháp lý, chính sách ưu đãi; các FTA và quan hệ ngoại giao ổn định; chi phí lao động cạnh tranh và đồng Việt Nam giảm giá tương đối, giúp sản phẩm Việt Nam hấp dẫn trên thị trường quốc tế. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài chọn Việt Nam làm điểm đến lâu dài, tận dụng vị trí sản xuất ổn định để mở rộng và chuyển giao dự án khi kinh tế bùng nổ.
Hướng đi cho doanh nghiệp nội địa
Về việc khu vực FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, khiến giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn hạn chế, phần lớn lợi nhuận thuộc về các tập đoàn mẹ, trong khi Việt Nam hưởng lợi chủ yếu từ tiền lương, thuế và hạ tầng, PGS.TS Lạng cho rằng Việt Nam cần khuyến khích doanh nghiệp nội tham gia sâu hơn vào các dự án FDI, dưới hình thức góp vốn, liên doanh hoặc cổ phần hóa, nhằm học hỏi công nghệ, kỹ năng quản trị và kinh nghiệm thị trường quốc tế.
Nhìn nhận về hướng đi cho doanh nghiệp nội gia tăng đơn hàng xuất khẩu, theo ông Trần Thanh Hải, tối ưu hóa logistics, thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới và ứng dụng công nghệ số là điều kiện tiên quyết để thâm nhập thị trường khó tính. Trong đó, minh bạch thông tin qua Blockchain, mã số định danh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh chính là “hộ chiếu” cho hàng Việt vào Mỹ và châu Âu.
Ngoài những giải pháp trên, hướng đi khác cho doanh nghiệp nội còn là tìm đến những thị trường ngách thay vì chỉ phụ thuộc vào một số thị trường quen thuộc như trước đây.
Chỉ đạo tại hội nghị hôm 19/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu ngành Công Thương, các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần chú ý thị trường ngách, nghiên cứu sản phẩm "thị trường cần, không phải thứ trong nước có".
Giữa mối lo vẫn còn nguyên khi doanh nghiệp khối nội “chênh vênh” trước khối ngoại, điều mong mỏi khi bước vào năm 2026 nằm ở việc nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước, tăng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa và giảm dần sự phụ thuộc vào khối FDI. Về dài hạn, nhóm phân tích của SHS cho rằng Việt Nam cần sớm chuyển trọng tâm từ tăng số lượng sang nâng cao chất lượng trong ngoại thương. Tức là, cần gia tăng tỷ trọng giá trị nội địa và hàm lượng công nghệ trong mỗi sản phẩm xuất khẩu.
Điều này đòi hỏi hình thành các chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh tại chỗ, ít nhất ở các ngành mũi nhọn như dệt may, điện tử, hóa chất hay vật liệu. Đồng thời, doanh nghiệp trong nước cần tăng gắn kết với FDI, tích lũy nội lực về nhân lực, công nghệ và vốn.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận