Vĩ mô

Thấy gì từ con số 1,6 triệu thanh niên Việt Nam rơi vào tình trạng '3 không'

Thị trường lao động quý I/2026 ổn định, thu nhập tăng nhưng gần 1,6 triệu thanh niên rơi vào nhóm '3 không', đặt ra thách thức lớn về kỹ năng và việc làm.

Thị trường lao động Việt Nam trong quý I/2026 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, song nổi lên một nghịch lý đáng chú ý khi số lượng thanh niên rơi vào nhóm “3 không” vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng.

Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), cả nước hiện có gần 1,6 triệu người trong độ tuổi 15-24 không có việc làm, không tham gia học tập và cũng không tham gia đào tạo. Con số này tăng 172.600 người so với quý trước và tăng 212.500 người so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 11,4% tổng số thanh niên.

quan-cafe-ngoi-lam-viec-ca-ngay-2_ac2c32c10a354ca49006c470c16f00bc_1024x1024.jpg
1,6 triệu thanh niên Việt Nam rơi vào tình trạng '3 không'. Ảnh minh họa

Sự gia tăng này phản ánh rõ những thách thức của lực lượng lao động trẻ trong giai đoạn gia nhập thị trường. Dù nhu cầu tìm việc và lựa chọn nghề nghiệp cao, nhưng hạn chế về kinh nghiệm và kỹ năng khiến nhiều người chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng.

Tỷ lệ thanh niên “3 không” tại khu vực nông thôn cao hơn đáng kể so với thành thị, lần lượt là 13% và 8,9%. Xét theo giới tính, tỷ lệ này ở nữ là 12,8%, cao hơn mức 10% của nam.

Bức tranh lao động quý I cho thấy tổng thể thị trường vẫn giữ được sự ổn định. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt 53,6 triệu người, giảm khoảng 232.900 người so với quý trước nhưng tăng 687.800 người so với cùng kỳ năm trước.

Sự sụt giảm theo quý chủ yếu mang tính thời điểm do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và những gián đoạn ngắn hạn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,3%, giảm nhẹ 0,4 điểm phần trăm so với quý trước nhưng tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ.

Số người có việc làm đạt khoảng 52,5 triệu người, giảm 233.400 người so với quý trước nhưng tăng 656.800 người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị có 20,6 triệu lao động, chiếm 39,2%, còn khu vực nông thôn chiếm 60,8% với 31,9 triệu người.

Xét theo cơ cấu ngành, khu vực dịch vụ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41%, tương ứng 21,5 triệu lao động; công nghiệp và xây dựng chiếm 33,7% với 17,7 triệu người; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,3% với 13,3 triệu người và tiếp tục xu hướng giảm.

Một số ngành ghi nhận mức tăng lao động đáng kể so với cùng kỳ như xây dựng tăng 426.000 người (gần 10%), vận tải và kho bãi tăng hơn 202.000 người (trên 9%), dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 151.500 người (gần 5%).

Bên cạnh đó, các ngành kinh tế số lõi thu hút khoảng 1,55 triệu lao động, chiếm gần 3% tổng số người có việc làm. Tỷ trọng này đã tăng từ 2,4% lên 2,9% trong giai đoạn 2024–2026, cho thấy xu hướng mở rộng của lĩnh vực công nghệ, dù vẫn phản ánh quá trình chuyển đổi số còn ở giai đoạn đầu.

Về chất lượng việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,6%, tăng nhẹ so với cả quý trước và cùng kỳ. Tuy nhiên, lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 62,2%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước nhưng giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ này ở khu vực nông thôn lên tới 71,1%, cao hơn nhiều so với mức 48,4% ở thành thị.

Tình trạng thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ghi nhận 786.700 người, tăng nhẹ 2.700 người so với quý trước nhưng giảm 10.300 người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm duy trì ở mức 1,68%, gần như không thay đổi. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất với 48,4%, tiếp đến là dịch vụ với 34,1% và công nghiệp, xây dựng với 17,4%.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức 2,21%, ổn định so với cả quý trước và cùng kỳ năm trước. Riêng tỷ lệ thất nghiệp thanh niên là 8,86%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước nhưng tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Tại khu vực thành thị, tỷ lệ này là 10,7%, trong khi nông thôn là 7,8%.

Đáng chú ý, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng trong quý I là 4,2%, trong đó thành thị là 3,9% và nông thôn là 4,3%. Đây là chỉ dấu cho thấy dư địa cải thiện hiệu quả sử dụng lao động vẫn còn đáng kể.

screenshot_1775324886.png
Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động các quý giai đoạn 2023-2026

Ở góc độ thu nhập, đời sống người lao động tiếp tục được cải thiện. Thu nhập bình quân đạt 9 triệu đồng/tháng, tăng 329.000 đồng (khoảng 4%) so với quý trước và tăng 706.000 đồng (khoảng 9%) so với cùng kỳ năm trước.

Lao động khu vực thành thị có thu nhập bình quân 10,7 triệu đồng/tháng, trong khi khu vực nông thôn đạt 7,9 triệu đồng/tháng. Đối với lao động làm công hưởng lương, thu nhập bình quân đạt 10 triệu đồng/tháng, tăng gần 7% so với cùng kỳ; trong đó thành thị đạt 11,2 triệu đồng/tháng và nông thôn đạt 9,1 triệu đồng/tháng.

Song song với đó, nhóm lao động làm công việc tự sản tự tiêu vẫn duy trì ở mức hơn 3,8 triệu người, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (93,9%) và phần lớn là nữ giới (65%). Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đòi hỏi kỹ năng cao, cơ hội tiếp cận việc làm tốt của nhóm này vẫn còn hạn chế.

Mai Anh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-05 10:18