Theo kế hoạch mới ban hành của Bộ Y tế, dịch vụ sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung sẽ sớm được đưa vào danh mục chi trả của bảo hiểm y tế.
Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 358/QĐ-BYT ngày 3/2/2026 kèm “Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035”, trong đó nêu rõ lộ trình đưa dịch vụ sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung vào danh mục chi trả của bảo hiểm y tế (BHYT).
Đây được xác định là nội dung đột phá, hướng tới việc xóa bỏ rào cản tài chính, tạo điều kiện để hàng triệu phụ nữ được tiếp cận dịch vụ tầm soát, phát hiện bệnh sớm, qua đó giảm số ca tử vong.
Theo Kế hoạch, Bộ Y tế đã xây dựng lộ trình tài chính rõ ràng với mục tiêu bảo đảm nguồn lực bền vững, lâu dài, từng bước chuyển dịch từ việc phụ thuộc vào các dự án, chương trình hỗ trợ ngắn hạn sang cơ chế tài chính ổn định từ quỹ BHYT. Trong đó, việc đưa các dịch vụ sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung vào gói quyền lợi BHYT được định hướng triển khai trong giai đoạn 2028-2030.
Kế hoạch xác định các nhóm nhiệm vụ ưu tiên trong vận động và hoàn thiện chính sách, trước hết là mở rộng danh mục chi trả của BHYT, bao gồm chi phí sàng lọc định kỳ, khám vú lâm sàng, chụp X-quang vú và các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán, nhằm tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận các dịch vụ phát hiện sớm ngay từ tuyến cơ sở.
Cùng với đó, chi phí sàng lọc ung thư cổ tử cung như xét nghiệm HPV, tế bào học sẽ từng bước được tích hợp đầy đủ vào gói quyền lợi BHYT, bảo đảm mọi phụ nữ, không phân biệt vùng miền, điều kiện kinh tế, đều có cơ hội tiếp cận công bằng. Giai đoạn 2028-2030 được xác định là thời điểm then chốt để chính thức đưa các dịch vụ sàng lọc này vào danh mục BHYT chi trả, tạo nền tảng cho việc mở rộng độ bao phủ trên phạm vi toàn quốc.

Các tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao hiệu quả của cách tiếp cận này. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), đầu tư cho sàng lọc và tiêm chủng không chỉ mang lại lợi ích lớn về y tế mà còn có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Ước tính, các chính sách can thiệp phù hợp có thể giúp giảm tới 300.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế - xã hội gấp 8 - 20 lần so với chi phí đầu tư ban đầu.
Những phân tích, đánh giá của Bộ Y tế cho thấy, nguồn lực tài chính bền vững từ BHYT toàn dân là yếu tố then chốt để mở rộng độ bao phủ sàng lọc ung thư. Việc tích hợp chi phí chụp X-quang vú, khám định kỳ và xét nghiệm sàng lọc vào gói quyền lợi BHYT không chỉ giúp loại bỏ rào cản tài chính mà còn bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ phát hiện sớm, đồng thời duy trì tính ổn định của chương trình phòng, chống ung thư, không phụ thuộc vào các dự án ngắn hạn. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam từng bước chuyển trọng tâm từ “điều trị muộn” sang “dự phòng sớm”, nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe phụ nữ trong dài hạn.
Tại Việt Nam, ung thư vú và ung thư cổ tử cung hiện là hai gánh nặng sức khỏe lớn nhất đối với phụ nữ. Năm 2022, cả nước ghi nhận hơn 24.500 ca mắc mới ung thư vú và khoảng 10.000 ca tử vong. Đáng chú ý, hơn 60% bệnh nhân ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn muộn (III - IV), làm giảm hiệu quả điều trị và gia tăng chi phí chăm sóc. Tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn nhiều quốc gia phát triển.
Đối với ung thư cổ tử cung, dù có thể dự phòng và phát hiện sớm, bệnh vẫn đang là “sát thủ thầm lặng” đối với phụ nữ Việt Nam. Theo ước tính năm 2022, cả nước có hơn 4.600 ca mắc mới và 2.571 ca tử vong. Các báo cáo giai đoạn 2020 - 2024 cho thấy xu hướng gia tăng rõ rệt, với số ca mắc mới tăng từ 2.869 ca năm 2020 lên 3.895 ca năm 2024, đồng thời số ca tử vong cũng tăng trong cùng kỳ.

Gánh nặng bệnh tật không chỉ tác động lớn đến hệ thống y tế mà còn khiến người bệnh phải đối mặt với chi phí điều trị cao, dao động từ 368-11.400 USD (gần 10 triệu đồng tới hơn 290 triệu đồng), tùy theo giai đoạn bệnh và phác đồ điều trị. Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ mắc và tử vong cao được xác định nằm ở “khoảng trống” trong công tác dự phòng.
Hiện tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 30-49 từng được sàng lọc ung thư cổ tử cung ít nhất một lần mới đạt khoảng 28%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 60% đặt ra cho năm 2025. Bên cạnh đó, năm 2021, tỷ lệ tiêm vaccine HPV ở nhóm phụ nữ 15-29 tuổi chỉ đạt 12%. Đáng chú ý, sự bất bình đẳng trong tiếp cận y tế còn thể hiện rõ khi 30,8% phụ nữ người Kinh từng được sàng lọc, trong khi con số này ở phụ nữ người Mông chỉ đạt 0,9%.
Bảo Lam - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận