Để GDP đạt 10% trở lên, ông Nguyễn Thanh Nghị đã nêu rõ 6 nhóm nhiệm vụ lớn, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và lấy khoa học – công nghệ làm động lực chủ đạo.
Sáng 7/2, hơn 1,9 triệu đại biểu đã tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tại hội nghị, ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đã trình bày chuyên đề đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2025 và định hướng cho nhiệm kỳ tới.
Theo Nghị quyết Đại hội XIV, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được các mục tiêu này, nền kinh tế được định hướng tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn tới.
Ông Nghị thẳng thắn nhìn nhận, đây là chỉ tiêu “rất cao, rất thách thức”, bởi trong suốt 40 năm Đổi mới, Việt Nam chưa có giai đoạn nào duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức hai chữ số. Tuy nhiên, mục tiêu này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ nhằm giúp Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tạo động lực để nền kinh tế bứt phá và cất cánh.

6 nhóm nhiệm vụ lớn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Đại hội XIV đã đề ra 12 định hướng, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, được Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương khái quát thành 6 nhóm nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, xây dựng đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa; lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Nhà điều hành sẽ ban hành các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm quy mô lớn; đồng thời cải cách thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường giám sát.
Thứ hai, xác lập mô hình tăng trưởng mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được xác định là các trụ cột phát triển. Việt Nam sẽ hình thành các cực tăng trưởng, vùng kinh tế trọng điểm, đô thị và đặc khu kinh tế, gắn với các mô hình phát triển tầm khu vực và toàn cầu. Song song đó là hiện đại hóa hệ thống tài chính – ngân hàng, phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại và dịch vụ giá trị gia tăng; thúc đẩy đô thị hóa, kinh tế biển và liên kết vùng. Trong cơ cấu này, kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Thứ ba, tạo đột phá về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nhà điều hành sẽ tháo gỡ các rào cản về cơ chế, tạo điều kiện tự chủ trong quản lý và đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp khoa học – công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp phát triển và ứng dụng công nghệ cao. Việt Nam cũng chú trọng phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, thu hút khu vực tư nhân và nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác công – tư; ưu tiên phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược gắn với xây dựng kinh tế số, xã hội số và bảo vệ tài sản trí tuệ.
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường, phát triển các thị trường các-bon và năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Việt Nam kiên định mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời chủ động phòng, chống thiên tai và phục hồi hệ sinh thái.
Thứ năm, phát triển văn hóa, nguồn nhân lực và bảo đảm công bằng xã hội. Trọng tâm là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển giáo dục theo chuẩn quốc tế; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Hệ thống an sinh xã hội, y tế và tạo việc làm tiếp tục được củng cố theo tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Thứ sáu, gắn kết chặt chẽ quốc phòng, an ninh và đối ngoại với phát triển kinh tế – xã hội; giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, đồng thời nâng cao vị thế và uy tín quốc tế, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
3 đột phá then chốt
Theo Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Đại hội XIV xác định ba đột phá then chốt gồm: Hoàn thiện thể chế gắn với phát triển khoa học – công nghệ và khu vực kinh tế tư nhân; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới công tác cán bộ; đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh và năng lượng.
Nhấn mạnh tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là “lựa chọn đúng – triển khai nhanh – làm đến nơi đến chốn – đo lường bằng kết quả”, ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng Việt Nam sẽ huy động sức mạnh của toàn dân để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm.
Giai đoạn 2021–2025, GDP của Việt Nam tăng bình quân 6,3%/năm, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới, cao hơn mức bình quân của các giai đoạn trước. Nhờ đó, quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD năm 2020 lên trên 514 tỷ USD năm 2025, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, GNI bình quân khoảng 4.700 USD, đưa Việt Nam chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn tới.
Minh Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận