Theo TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, trong bối cảnh thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ, nhiều yếu tố thuận lợi đang hội tụ, mở ra “cửa sổ cơ hội” quan trọng để Việt Nam bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Sau hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Thống nhất đất nước Việt Nam 1975, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hành trình chuyển mình sâu rộng, từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Những thành tựu đạt được là rõ nét, song đi cùng đó vẫn là không ít thách thức đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Xung quanh bức tranh kinh tế Việt Nam hiện nay, những động lực tăng trưởng, điểm nghẽn thể chế cũng như triển vọng trong chặng đường tới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam.
KINH TẾ VIỆT NAM ĐÃ CÓ BƯỚC CHUYỂN MÌNH TOÀN DIỆN
Sau hơn nửa thế kỷ kể từ Thống nhất đất nước năm 1975, ông nhìn nhận như thế nào về những dấu ấn nổi bật của kinh tế Việt Nam?
TS Lê Duy Bình: Sau tròn 5 thập niên kể từ ngày thống nhất đất nước, có thể khẳng định Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, mang ý nghĩa lịch sử và có tính bước ngoặt đối với tiến trình phát triển quốc gia. Từ một nền kinh tế kém phát triển, phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé và thu nhập rất thấp, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi nhóm các nước thu nhập thấp từ năm 2008 và từng bước khẳng định vị thế trong khu vực cũng như trên thế giới.
Nếu nhìn vào các chỉ tiêu định lượng, bức tranh chuyển mình của nền kinh tế là rất rõ nét. Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt khoảng 514 tỷ USD, trong khi GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD.
Đây là bước tiến vượt bậc nếu so với thời điểm năm 1975, khi quy mô nền kinh tế chưa đến 22 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 80 USD. Những con số này không chỉ phản ánh sự tăng trưởng về lượng mà còn cho thấy sự thay đổi căn bản về chất của nền kinh tế.
Một dấu ấn rất đáng chú ý khác là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ một nền kinh tế đóng cửa, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 15 cường quốc thương mại lớn nhất thế giới trong giai đoạn 2021–2025. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt gần 930 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành điểm sáng trong thương mại toàn cầu và đứng thứ hai trong ASEAN. Điều này cho thấy năng lực sản xuất, xuất khẩu cũng như mức độ gắn kết của nền kinh tế Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu đã được nâng lên đáng kể.
Song song với đó, Việt Nam cũng là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế. Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 38,42 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm trước và là mức cao nhất trong vòng 5 năm. Đáng chú ý, quy mô vốn FDI thực hiện trong năm 2025 thậm chí còn lớn hơn quy mô GDP của cả nền kinh tế Việt Nam vào thời điểm thống nhất đất nước, qua đó cho thấy niềm tin mạnh mẽ của nhà đầu tư quốc tế cũng như khả năng hấp thụ vốn ngày càng cải thiện của nền kinh tế.
Không chỉ tăng trưởng về quy mô, nền kinh tế Việt Nam còn cho thấy khả năng thích ứng và sức chống chịu ngày càng tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài. Thực tiễn trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn đại dịch Covid-19 và sau đó là bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm, đã cho thấy Việt Nam có thể duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi nhanh và tiếp tục tăng trưởng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 32 trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, dấu ấn quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc hơn nằm ở chỗ tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với tiến bộ và công bằng xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh từ 58% vào năm 1993 xuống còn 2,93% vào năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,73, cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập. Những kết quả này cho thấy Việt Nam không chỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng mà còn chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển.
Có thể nói, sau hơn nửa thế kỷ, kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển mình toàn diện, từ quy mô, cơ cấu, mức độ hội nhập cho đến chất lượng tăng trưởng. Những thành tựu này là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục hướng tới các mục tiêu phát triển cao hơn trong giai đoạn tới.
Trong chặng đường vẻ vang đó, theo quan điểm của ông đâu là những bài học kinh nghiệm quan trọng đối với kinh tế Việt Nam?
TS Lê Duy Bình: Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, từ tái thiết sau chiến tranh đến khủng hoảng, tới bao cấp rồi tới giai đoạn mở cửa và hội nhập. Qua đó, nền kinh tế rút ra nhiều bài học quý báu.
Trước hết là tinh thần dám nghĩ, dám làm, kết hợp hài hòa giữa đổi mới và ổn định, giữa nội lực và hội nhập. Phát triển kinh tế luôn được ưu tiên nhưng đi kèm với yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và hài hòa giữa tốc độ với chất lượng tăng trưởng. Các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường luôn song hành với tăng trưởng.
Bài học về bảo đảm độc lập tự chủ, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế cũng ngày càng khẳng định giá trị. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế càng trở nên cấp thiết. Hội nhập sâu rộng cần dựa trên nền tảng một nền kinh tế tự cường, phát huy các năng lực nội sinh.
Do đó, cần phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, coi khó khăn là động lực vươn lên; đồng thời nâng cao tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong điều hành. Các chủ trương hiện nay như thúc đẩy kinh tế tư nhân, phát triển thị trường trong nước, mở rộng không gian tăng trưởng, khai thác động lực mới từ kinh tế số, kinh tế xanh… đều phản ánh rõ tinh thần này.
Một bài học quan trọng khác là phát triển kinh tế phải đi đôi với hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Những nỗ lực cải cách hiện nay không chỉ nâng cao chất lượng thể chế mà còn giúp tăng kỷ luật, kỷ cương, cải thiện dịch vụ công, thúc đẩy phân cấp, phân quyền và sử dụng hiệu quả các công cụ thị trường. Qua đó, thể chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện.
NHIỀU CƠ HỘI MỚI ĐANG MỞ RA VỚI VIỆT NAM
Thế giới đang đổi thay nhanh chóng từng ngày, sau hơn 50 năm Giải phóng miền Nam 1975, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đánh giá của ông, đâu là nền tảng quan trọng giúp hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
TS Lê Duy Bình: Hơn lúc nào hết, tôi nhận thấy giai đoạn này, khát vọng dân tộc được thể hiện rất rõ nét và đang được hỗ trợ bởi những quyết sách và hành động quyết liệt nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Khát vọng này vừa là động lực, vừa là “ngọn hải đăng” định hướng cho toàn bộ nền kinh tế.
Chúng ta đang chứng kiến những nỗ lực mạnh mẽ trong hoàn thiện thể chế pháp luật, tạo đột phá về khoa học – công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua xây dựng thể chế minh bạch, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng đầu tư cho giáo dục, văn hóa, y tế. Đồng thời, nền kinh tế cũng chuyển dịch theo hướng huy động và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực từ khu vực tư nhân, khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Trên hành trình vẻ vang đó, những cơ hội nào đang mở ra đối với kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình lại mô hình tăng trưởng và cấu trúc nền kinh tế toàn cầu?
TS Lê Duy Bình: Trên con đường hiện thực hóa khát vọng đó, nhiều cơ hội đang mở ra. Các xu thế công nghệ như Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra một “đường đua mới” mà Việt Nam có cơ hội đi tắt, đón đầu.
Điều này đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh ứng dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi đây là động lực cốt lõi để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào tri thức, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng là con đường để Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và bắt kịp các nước phát triển.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ dần thay thế các động lực tăng trưởng truyền thống như khai thác tài nguyên. Công nghệ trở thành nguồn lực bền vững, giúp sản xuất hiệu quả hơn, tạo ra sản phẩm giá trị cao, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.
Đồng thời, khoa học – công nghệ là nền tảng của chuyển đổi số, thúc đẩy hình thành kinh tế số, xã hội số và quản trị số. Các công nghệ như AI, Big Data hay IoT sẽ tái định hình cấu trúc nền kinh tế, tạo ra các mô hình kinh doanh mới, hiện đại hóa quản trị và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Việt Nam đặt mục tiêu tới năm 2045, nhân kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước sẽ trở thành một nước phát triển và có thu nhập cao. Vậy, theo quan điểm của ông, chúng ta cần phải làm gì để có thể đạt được mục tiêu trên?
TS Lê Duy Bình: Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu đầy tham vọng này, cần một cách tiếp cận tổng thể, nhất quán và kiên định với các ưu tiên chiến lược dài hạn.
Trước hết là nâng cao sức mạnh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là tính tự lực, tự cường. Việt Nam cần dứt khoát thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào các yếu tố đầu vào như lao động giá rẻ, tài nguyên sang dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ, tri thức và năng suất lao động. Điều này đòi hỏi phải đầu tư mạnh mẽ hơn cho khoa học – công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, cần phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của tăng trưởng, thúc đẩy thị trường trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp Việt Nam.
Song song với đó, việc chú trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng là yêu cầu xuyên suốt. Tăng trưởng không chỉ là con số mà cần gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đồng thời, phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Việc lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, sẽ quyết định tính bền vững của mô hình tăng trưởng trong dài hạn.
Một trụ cột đặc biệt quan trọng khác là tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế. Thể chế phải thực sự trở thành “đòn bẩy” cho phát triển, thay vì là điểm nghẽn. Điều này bao gồm việc hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, ổn định, dễ dự đoán; nâng cao hiệu quả quản trị công; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi kèm với kiểm soát quyền lực hiệu quả sẽ giúp nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cấp chính quyền, từ đó cải thiện chất lượng điều hành và môi trường đầu tư kinh doanh.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tận dụng tốt các cơ hội từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không chỉ mở rộng thị trường mà còn tạo áp lực cải cách trong nước. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, nền kinh tế phải nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo cần được thúc đẩy mạnh mẽ để tạo dư địa phát triển trong giai đoạn tới.
Ngoài ra, việc phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng logistics và hạ tầng năng lượng cũng đóng vai trò then chốt. Đây là nền tảng để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kết nối và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Song hành với đó là việc xây dựng bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực hoạch định và thực thi chính sách trong bối cảnh mới.
Tổng hòa các giải pháp này sẽ tạo ra nền tảng vững chắc để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, tự chủ, tự cường, đồng thời phát huy mạnh mẽ các nguồn lực nội sinh. Nếu kiên định với các định hướng chiến lược và tận dụng tốt các cơ hội của thời đại, mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa.
Trân trọng cảm ơn ông!
Khúc Văn - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-05-03 11:48
Bình luận
0 Bình luận