Vĩ mô

TS. Lê Xuân Nghĩa: Khủng hoảng Trung Đông có thể kéo dài nhiều năm tới, làm lộ rõ những điểm nghẽn của kinh tế Việt Nam

TS. Lê Xuân Nghĩa cảnh báo cú sốc giá năng lượng, áp lực lạm phát và lãi suất cao sẽ tiếp tục đè nặng lên tăng trưởng, đồng thời làm bộc lộ rõ hơn những điểm nghẽn nội tại của kinh tế Việt Nam.

Tác động của khủng hoảng có thể kéo dài trong nhiều năm

Về tác động của xung đột Trung Đông tới kinh tế Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo “Biến động địa - chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng”, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng cuộc khủng hoảng tại khu vực này không chỉ mang tính ngắn hạn mà có thể kéo dài, tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng tới kinh tế toàn cầu cũng như Việt Nam.

1 - ts-le-xuan-nghia
TS Lê Xuân Nghĩa.

Theo ông, Trung Đông là khu vực đặc biệt quan trọng khi tập trung các trung tâm năng lượng, tài chính và thương mại lớn của thế giới. Đây cũng là nơi diễn ra cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc như Mỹ, Nga và Trung Quốc, khiến rủi ro địa chính trị ngày càng gia tăng. Thực tế cho thấy những biến động tại khu vực này có thể lan tỏa nhanh chóng, tác động trực tiếp đến nhiều nền kinh tế.

Một trong những ảnh hưởng rõ nét nhất là cú sốc về giá năng lượng. TS. Lê Xuân Nghĩa dẫn tính toán cho thấy nếu giá dầu tăng 10% có thể khiến lạm phát tăng thêm khoảng 0,2-0,3 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hiện nay, giá dầu đã tăng khoảng 40-50%, qua đó có thể đẩy lạm phát của Việt Nam từ mức khoảng 3,3% lên khoảng 4-4,5% trong năm nay. Đáng chú ý, Việt Nam đang có xu hướng gia tăng nhập khẩu ròng năng lượng, khiến nền kinh tế trở nên nhạy cảm hơn với biến động giá quốc tế.

Tuy nhiên, theo TS. Lê Xuân Nghĩa, những khó khăn của kinh tế vĩ mô Việt Nam không chỉ đến từ yếu tố bên ngoài mà đã tồn tại từ trước khi xảy ra khủng hoảng. Ông chỉ ra nghịch lý khi lạm phát ở mức thấp nhưng lãi suất cho vay lại ở mức cao, phổ biến từ 8-10% và có trường hợp lên tới 14-15%. Điều này phản ánh những bất cập trong cấu trúc tài chính và thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Phân tích nguyên nhân, chuyên gia cho rằng áp lực huy động vốn cho đầu tư công là một yếu tố quan trọng. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao, Chính phủ phải đẩy mạnh huy động nguồn lực lớn, tạo ra sự cạnh tranh vốn với khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, dòng tiền trong nền kinh tế vận hành chưa hiệu quả, khi có tình trạng vốn quay vòng giữa ngân sách và hệ thống ngân hàng mà chưa đi vào sản xuất kinh doanh thực chất.

Một yếu tố khác là các chính sách thuế và quản lý kinh doanh nhỏ lẻ đang tạo ra những tác động nhất định tới hành vi của khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ. Điều này khiến một bộ phận dòng tiền có xu hướng rút khỏi hệ thống ngân hàng, làm gia tăng áp lực thanh khoản, buộc các ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức cao.

Hệ quả là mặt bằng lãi suất cao đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động đầu tư. TS. Lê Xuân Nghĩa nhận định đầu tư của khu vực tư nhân có dấu hiệu chững lại, trong khi giải ngân đầu tư công chưa đạt kỳ vọng, mới ở mức thấp trong những tháng đầu năm. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng đối mặt nguy cơ suy giảm do bối cảnh địa chính trị phức tạp và mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao.

Đang có sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư

Một vấn đề đáng chú ý khác là sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư. Theo tính toán, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam vào khoảng 37% GDP, nhưng tỷ lệ đầu tư chỉ đạt khoảng 32%, tạo ra khoảng chênh lệch lớn. Phần tiết kiệm này không được chuyển hóa hiệu quả thành đầu tư sản xuất mà có xu hướng chảy vào các kênh như vàng, chứng khoán hoặc tích trữ, làm giảm hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế.

Đang có sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư.

Trong bối cảnh đó, cú sốc từ Trung Đông tiếp tục làm gia tăng áp lực lên điều hành kinh tế vĩ mô. Việc giá năng lượng tăng khiến áp lực lạm phát lớn hơn, đồng thời thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ. Nếu giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng có thể làm gia tăng lạm phát, trong khi duy trì lãi suất cao sẽ tiếp tục kìm hãm đầu tư và sản xuất kinh doanh. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, đây là bài toán khó không chỉ trong năm nay mà có thể kéo dài trong những năm tới.

Dù vậy, chuyên gia cũng chỉ ra một số cơ hội trong bối cảnh mới. Trong đó, ngành du lịch có thể hưởng lợi khi dòng khách quốc tế có xu hướng dịch chuyển khỏi các khu vực bất ổn sang những điểm đến an toàn hơn như Đông Nam Á và Việt Nam. Tuy nhiên, ông cho rằng Việt Nam vẫn chưa có chiến lược phát triển du lịch đủ mạnh, từ chính sách thị thực, quảng bá đến đầu tư hạ tầng và dịch vụ.

Bên cạnh đó, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh cần nhìn nhận lại vai trò của thị trường bất động sản. Theo ông, đây là một trong những thị trường có quy mô lớn nhất, có tác động lan tỏa mạnh tới nhiều ngành kinh tế như xây dựng, vật liệu, nội thất và tiêu dùng. Không chỉ vậy, bất động sản còn là lĩnh vực có giá trị gia tăng chủ yếu nằm trong nước, khác với nhiều ngành xuất khẩu.

Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại định kiến coi bất động sản là lĩnh vực đầu cơ, dẫn đến các chính sách kiểm soát mang tính siết chặt. Điều này có thể làm suy yếu một động lực quan trọng của tăng trưởng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm các động lực nội địa.

Từ những phân tích trên, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là xử lý đồng thời các vấn đề về lãi suất, lạm phát và tăng trưởng. Cuộc khủng hoảng Trung Đông không chỉ tạo ra cú sốc từ bên ngoài mà còn làm bộc lộ rõ hơn những điểm nghẽn nội tại của nền kinh tế, đòi hỏi các giải pháp điều hành linh hoạt và phù hợp hơn trong thời gian tới.

Khúc Văn - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-09 14:26