Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, điều khiến doanh nghiệp e ngại hiện nay không chỉ là chi phí vốn hay áp lực thị trường, mà là sự thiếu ổn định và khó dự báo của môi trường chính sách. Khi niềm tin suy giảm và rủi ro can thiệp hành chính gia tăng, doanh nghiệp sẽ có xu hướng thu hẹp đầu tư dài hạn, chuyển sang tâm lý phòng thủ và nắm giữ tài sản an toàn hơn.
Phát biểu tại tọa đàm về dấu ấn một năm thực hiện Nghị quyết 68, TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế, cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều quan trọng không phải là ban hành thêm nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, qua đó tạo môi trường kinh doanh ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.

Theo ông, điều khiến doanh nghiệp và nhà đầu tư lo ngại hiện nay không hẳn là khó khăn thị trường hay chi phí sản xuất, mà là cảm giác bất định đến từ những thay đổi chính sách khó lường và các can thiệp hành chính.
“Khi môi trường pháp lý thiếu ổn định, doanh nghiệp sẽ không còn cảm giác an toàn để đầu tư dài hạn”, ông nói.
TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng trong bối cảnh niềm tin suy giảm, doanh nghiệp thường có xu hướng thu hẹp hoạt động chính thức, “giấu” tài sản hoặc chuyển dòng tiền sang các kênh phòng thủ để bảo toàn năng lực kinh doanh.
Ông liên hệ với thực tế nhiều doanh nghiệp và người dân hiện nay đang dịch chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác.
“Người ta giấu doanh nghiệp đi, giấu hoạt động kinh doanh chính thức đi để chuyển tiền sang vàng. Đó là biểu hiện cho thấy họ đang cố giữ tài sản để còn có thể kinh doanh được”, ông nhận định.
Ở góc độ nghiên cứu thể chế, TS. Nguyễn Quốc Việt đề cập tới chỉ số “risk of expropriation” – rủi ro bị tước đoạt tài sản. Theo ông, khái niệm này không chỉ dừng ở nguy cơ quốc hữu hóa hay bị tịch thu tài sản, mà còn bao gồm cả rủi ro đến từ các can thiệp hành chính và những sắc lệnh quản lý gây bất ổn.
“Khi sắc lệnh hành chính tạo ra sự không chắc chắn, những thay đổi đột ngột thì đó cũng là một dạng rủi ro đối với người nắm giữ tài sản và người kinh doanh”, ông phân tích.
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, doanh nghiệp hiện nay không quá sợ cạnh tranh, mà điều họ lo ngại hơn là môi trường chính sách thiếu ổn định và khó dự báo.
Ông cho rằng cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính. Nếu muốn giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý, Việt Nam đồng thời phải nâng cao vai trò và hiệu quả của hệ thống tư pháp.
Theo ông, điều này không chỉ liên quan tới tòa án mà còn bao gồm vai trò của luật sư, cơ chế giải quyết tranh chấp và toàn bộ hệ thống hỗ trợ pháp lý. Khi doanh nghiệp tin rằng quyền tài sản và tranh chấp của mình được bảo vệ minh bạch, ổn định thì nhà nước mới có thể giảm dần việc điều hành bằng các mệnh lệnh hành chính trực tiếp.
TS. Nguyễn Quốc Việt cũng nhắc tới chỉ số “legal formalism” – mức độ hình thức và nặng nề của hệ thống pháp lý. Đây là bộ chỉ số đo lường mức độ phức tạp của hệ thống luật pháp, số tầng nấc thủ tục và chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp phải gánh chịu.
“Nếu một quốc gia có hệ thống pháp lý quá nặng nề, quá nhiều thủ tục, quá nhiều quy định hình thức thì chính điều đó lại trở thành lực cản cho sự phát triển”, ông nói.
Theo ông, khi một nền kinh tế bảo vệ tốt quyền tài sản và hạn chế được các can thiệp tùy tiện, điều đó thường giúp cải thiện nhiều chỉ số vĩ mô như tăng trưởng GDP, mở rộng thị trường chứng khoán hay nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng.
Tuy nhiên, nếu hệ thống pháp lý trở nên quá cồng kềnh và nặng về hình thức thì sẽ làm giảm hiệu quả của thị trường tài chính.
“Nặng về luật pháp thì lại làm giảm quy mô thị trường chứng khoán, làm giảm hiệu quả của thị trường tín dụng”, ông nhận định.
TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng nguyên nhân là khi hệ thống pháp lý quá phức tạp, doanh nghiệp sẽ phải gánh thêm chi phí tuân thủ, trong khi thị trường vốn trở nên kém linh hoạt và dòng tiền khó được phân bổ hiệu quả.
Theo ông, luật pháp hay nghị quyết cũng giống như một loại hàng hóa công. Ở giai đoạn đầu, việc bổ sung quy định có thể tạo ra tác động tích cực, giúp thị trường minh bạch và an toàn hơn. Tuy nhiên, khi vượt qua một ngưỡng nhất định, hiệu quả của các quy định sẽ giảm dần và thậm chí tạo thêm chi phí cho nền kinh tế.
“Nếu hệ thống quy định trở nên quá phức tạp, doanh nghiệp và người dân sẽ ưu tiên tìm cách thích ứng hoặc né tránh thay vì tập trung vào sản xuất kinh doanh”, ông nói.
Từ đó, TS. Nguyễn Quốc Việt bày tỏ băn khoăn về áp lực ban hành nhanh các nghị quyết, chương trình hành động và văn bản hướng dẫn hiện nay. Theo ông, tốc độ cải cách là cần thiết nhưng nếu thời gian chuẩn bị quá gấp thì việc đánh giá tác động chính sách sẽ khó đầy đủ.
“Có những yêu cầu chỉ trong vòng một tháng, thậm chí chưa đầy một tháng là phải ban hành văn bản. Khi đó, câu hỏi đặt ra là việc đánh giá tác động chính sách có được thực hiện đầy đủ hay không”, ông nêu vấn đề.
Theo vị chuyên gia, áp lực trách nhiệm hiện nay cũng khiến nhiều cán bộ lựa chọn phương án an toàn trong quá trình xây dựng chính sách, làm giảm động lực đổi mới và sáng tạo.
TS. Nguyễn Quốc Việt nhắc lại Nghị quyết 19 trước đây về cải thiện môi trường kinh doanh như một ví dụ tích cực của cải cách thể chế. Theo ông, nghị quyết này từng tạo ra không gian khá hiệu quả để doanh nghiệp, chuyên gia và các tổ chức quốc tế cùng tham gia phản biện, đồng thời xây dựng được nhiều bộ chỉ số đo lường theo chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên, ông cho rằng hiện nay các chương trình cải cách đang đứng trước thách thức về tính đồng bộ khi có quá nhiều nghị quyết và chương trình hành động được triển khai cùng lúc, kéo theo khối lượng văn bản hướng dẫn ngày càng lớn.
Lấy ví dụ về Nghị quyết 57 liên quan đến khoa học công nghệ, TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng chương trình triển khai ở nhiều địa phương hiện vẫn khá giống nhau và chưa tạo ra nhiều khác biệt trong cách tiếp cận.
Kết luận lại, ông nhấn mạnh điều quan trọng không nằm ở số lượng nghị quyết được ban hành mà là mức độ cải thiện thực chất của môi trường kinh doanh và niềm tin của doanh nghiệp.
“Có nghị quyết là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là các thay đổi đó có thực sự đi vào cuộc sống và tạo ra chuyển biến thực chất hay không”, ông nói.
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, điều Việt Nam cần hiện nay không phải là thêm thật nhiều văn bản, mà là một môi trường thể chế ổn định hơn, minh bạch hơn, ít bất định hơn và đủ an toàn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Khúc Văn - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-05-13 16:07
Bình luận
0 Bình luận