Vĩ mô

TS. Phạm Xuân Hòe: Tăng cung tín dụng để chạy theo tăng trưởng cao phải cân nhắc hết sức thận trọng

Theo chuyên gia, việc tiếp tục mở rộng cung tín dụng để chạy theo mục tiêu tăng trưởng cao cần được cân nhắc hết sức thận trọng, tránh tạo cú sốc lãi suất và rủi ro nợ xấu trong những năm tới.

Tín dụng/GDP ở mức cao, rủi ro lan truyền ngày càng lớn

Tại Diễn đàn “Thị trường tín dụng và những vấn đề kinh tế vĩ mô” sáng 24/12, TS. Phạm Xuân Hòe – nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cảnh báo những rủi ro của mô hình tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng vẫn đang hiện hữu và có xu hướng gia tăng, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính cũng như chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế.

Nhìn lại lịch sử, TS. Phạm Xuân Hòe cho rằng các cú sốc ngân hàng tại Việt Nam đều có điểm chung là mất cân đối tín dụng và rủi ro thanh khoản. Đầu những năm 1990, hệ thống hợp tác xã tín dụng và ngân hàng cổ phần nông thôn đã vỡ nợ ngay sau giai đoạn đầu đổi mới. Giai đoạn 1998–1999, ba ngân hàng thương mại nhà nước phải tái cơ cấu, trong bối cảnh tín dụng ngắn hạn chuyển mạnh sang trung – dài hạn và bất động sản, có ngân hàng gần như cạn vốn điều lệ chỉ khoảng 3.000 tỷ đồng.

Giai đoạn 2011–2015, ba ngân hàng 0 đồng cùng Ngân hàng Đông Á tiếp tục phải tái cơ cấu. Đến năm 2022, sự cố tại SCB một lần nữa phơi bày “căn bệnh thanh khoản” của hệ thống ngân hàng khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn tạo áp lực lớn lên chính sách tiền tệ.

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện Việt Nam có 49 ngân hàng thương mại, cùng nhiều tổ chức tài chính khác, trong khi tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên tới 137% (tính đến cuối tháng 9). Hệ thống ngân hàng đang cung cấp khoảng 60–65% tổng vốn cho nền kinh tế, một mức phụ thuộc rất cao.

Đáng chú ý, tín dụng bất động sản chiếm khoảng 24% tổng dư nợ, trong đó nhiều ngân hàng có mức tập trung rủi ro lớn. Có ngân hàng thương mại mà dư nợ bất động sản chiếm tới khoảng 50% danh mục cho vay. Điều này làm gia tăng rủi ro hệ thống và nguy cơ lan truyền cú sốc giữa ngân hàng với thị trường bất động sản.

“Quy mô càng lớn thì rủi ro càng mang tính hệ thống. Trước đây, năm 2011, khi tổng dư nợ toàn nền kinh tế chỉ hơn 3 triệu tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 7,21% đã là rất nghiêm trọng. Hiện nay dư nợ khoảng 18 triệu tỷ đồng, chỉ cần nợ xấu 3% thôi cũng đã tương đương hơn 500 nghìn tỷ đồng”, ông Hòe nhấn mạnh.

z7360210690332_6a5b194f4d2bb5f7268bb44d099fe17e.jpg
TS. Phạm Xuân Hòe – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng.

Cuộc đua lãi suất và rủi ro nợ xấu phía trước

TS. Phạm Xuân Hòe đặc biệt lưu ý rủi ro chu kỳ tín dụng. Khi tín dụng tăng nóng, vượt xa tốc độ huy động vốn và chảy mạnh vào các lĩnh vực nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán, bong bóng tài sản là điều khó tránh khỏi. Thực tế, Việt Nam đã từng chứng kiến lãi suất liên ngân hàng giai đoạn 2008–2011 vọt lên 38–40%, nhiều ngân hàng lách trần lãi suất và để lại những hệ lụy nghiêm trọng.

Năm 2011, việc siết room tín dụng để chống lạm phát đã tạo cú sốc lớn cho doanh nghiệp, khiến khoảng 63.000 doanh nghiệp phá sản, nợ xấu tăng mạnh. Cách xử lý nợ xấu thông qua VAMC về bản chất là “mua thời gian”, khiến mặt bằng lãi suất khó có thể giảm sâu trong thời gian dài.

Một vấn đề mang tính “căn bệnh kinh niên” khác là mất cân đối kỳ hạn vốn. Hiện khoảng 80% nguồn vốn của ngân hàng là vốn ngắn hạn, trong khi cho vay trung - dài hạn chiếm khoảng 47% tổng dư nợ. Sự lệch pha này khiến rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất luôn thường trực.

Đến 30/9, tổng tiền gửi trong hệ thống khoảng 16,1 triệu tỷ đồng, tăng 9%, trong khi dư nợ đạt 17,7 triệu tỷ đồng, tăng 14%. Chênh lệch kỳ hạn trên một năm ước khoảng 5 triệu tỷ đồng, tạo áp lực buộc lãi suất phải nhích lên. “Đã cho vay trung - dài hạn thì lãi suất buộc phải thả nổi theo đầu vào. Đây là quy luật thị trường, không thể khác”, ông Hòe nói.

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, cuộc đua lãi suất có thể xuất hiện vào đầu năm 2026, trong bối cảnh vốn dài hạn thiếu hụt, các dự án dài hạn ngày càng khó thu xếp nguồn vốn. Nợ xấu tiềm ẩn được dự báo có thể tăng lên mức 4–5%, trong khi tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu đã giảm xuống khoảng 80%.

Không chỉ dừng ở rủi ro ngân hàng, ông Hòe cảnh báo rủi ro vĩ mô khi tăng trưởng tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng. “Nếu cứ thúc tín dụng để kỳ vọng tăng trưởng cao, chu kỳ kinh tế 10 năm của Việt Nam có thể bị rút ngắn. Đây là điều rất nguy hiểm”, ông nhấn mạnh.

Từ thực tiễn, TS. Phạm Xuân Hòe rút ra ba bài học lớn. Thứ nhất, việc nới lỏng đồng thời chính sách tiền tệ và tài khóa giai đoạn 2008–2011 đã dẫn tới tăng trưởng nóng và bất ổn vĩ mô. Thứ hai, điều hành chính sách theo kiểu “giật cục” - thắt chặt rồi lại nới lỏng nhanh dễ tạo cú sốc cho nền kinh tế. Thứ ba, phân bổ nguồn lực méo mó, khi siết tín dụng vào bất động sản và chứng khoán, có thể làm kinh tế giảm tốc đột ngột.

“Tăng cung tín dụng để chạy theo mục tiêu tăng trưởng cao phải được cân nhắc hết sức thận trọng”, TS. Phạm Xuân Hòe kết luận.

Minh Anh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư