Từ năm 2026, trẻ em dưới 4 tuổi nếu đáp ứng điều kiện sẽ được hỗ trợ 1.350.000 đồng/tháng tiền mặt.

Theo Dự thảo Nghị định năm 2026 Quy định chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội vừa được Chính phủ ban hành, trẻ em dưới 4 tuổi thuộc một số trường hợp đặc biệt sẽ được hưởng mức trợ cấp xã hội hằng tháng lên tới 1.350.000 đồng.
Cụ thể, tại Điều 6 Dự thảo Nghị định quy định các đối tượng thuộc khoản 1 đến khoản 8 Điều 5 sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo mức chuẩn trợ giúp xã hội nhân với hệ số tương ứng.
Trong đó, đối với nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5, trẻ em dưới 4 tuổi được áp dụng hệ số 2,5; trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên áp dụng hệ số 1,5.
Trong khi đó, Điều 4 Dự thảo Nghị định quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Như vậy, trẻ em dưới 4 tuổi thuộc diện nêu trên sẽ được hưởng mức trợ cấp xã hội hằng tháng là 1.350.000 đồng, tương ứng với hệ số 2,5 nhân mức chuẩn trợ giúp xã hội.
Theo Dự thảo Nghị định, trẻ em dưới 4 tuổi được nhận mức trợ cấp này khi thuộc một trong các trường hợp như bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại không xác định được.
Ngoài ra, nhóm trẻ em có cha hoặc mẹ còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật cũng thuộc diện được hưởng trợ cấp. Trường hợp cha hoặc mẹ còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam, chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng nằm trong diện được hỗ trợ.
Dự thảo cũng quy định trẻ em được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng nếu cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định pháp luật; cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; hoặc cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bên cạnh đó, các trường hợp kết hợp giữa tình trạng của cha và mẹ như một người bị tuyên bố mất tích, người còn lại đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội; một người bị tuyên bố mất tích, người còn lại đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính; hoặc một người đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính cũng thuộc diện được hưởng trợ cấp.
Liên quan đến thẩm quyền quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 76/2024/NĐ-CP quy định căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương, UBND cấp tỉnh sẽ trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn, bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định.
Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2025, theo Điều 5 Nghị định 147/2025/NĐ-CP, thẩm quyền quyết định hưởng, điều chỉnh mức hưởng và thôi hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng đối với đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP sẽ do Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận