Nội dung này đã được quy định cụ thể trong Luật Trí tuệ nhân tạo, chính thức có hiệu lực từ tháng 3/2026.
Luật Trí tuệ nhân tạo được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV ngày 10/12/2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3. Văn bản gồm 35 điều, được thiết kế theo hướng “quản lý để phát triển”, bảo đảm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời hỗ trợ Việt Nam chủ động hội nhập với các chuẩn mực công nghệ mới.
Luật được ban hành với mục tiêu vừa mở đường cho hoạt động đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ, vừa bảo đảm các yếu tố bảo vệ con người và lợi ích quốc gia. Văn bản khẳng định trí tuệ nhân tạo là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò quyết định của con người trong các hoạt động kinh tế, xã hội và quản lý.
Một trong những nội dung đáng chú ý của luật là việc xác định rõ các hành vi bị cấm tuyệt đối trong quá trình phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo. Các quy định này nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm dụng công nghệ để thao túng hành vi, nhận thức của con người; tạo ra hoặc phát tán nội dung giả mạo phục vụ mục đích lừa đảo hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm; lợi dụng các nhóm yếu thế trong xã hội; hoặc sử dụng trí tuệ nhân tạo gây phương hại đến quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội.

Những nội dung trên được quy định cụ thể tại Điều 7 của Luật Trí tuệ nhân tạo, trong đó nêu rõ các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm:
1. Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
a, Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
b, Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
c, Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
d, Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
3. Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
4. Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của luật này.
5. Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
6. Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Việc ban hành và đưa vào thực thi Luật Trí tuệ nhân tạo được xem là bước đi quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý, góp phần định hướng hoạt động phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam theo hướng an toàn, minh bạch và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Bảo Lam - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-06 16:33
Bình luận
0 Bình luận