Theo thống kê, trong tổng số 1.575 công ty đại chúng đang niêm yết và đăng ký giao dịch, có 789 doanh nghiệp có nguồn gốc từ DNNN sau cổ phần hóa, tương đương khoảng 50%.

Tại hội thảo "Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng" do Báo Tiền Phong tổ chức ngày 21/7, ông Hoàng Văn Thu, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho biết các doanh nghiệp có nguồn gốc từ doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) sau cổ phần hóa hiện chiếm khoảng một nửa số công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán.
Theo thống kê, trong tổng số 1.575 công ty đại chúng đang niêm yết và đăng ký giao dịch, có 789 doanh nghiệp có nguồn gốc từ DNNN sau cổ phần hóa, tương đương khoảng 50%. Riêng tại HoSE, nhóm doanh nghiệp này đóng góp khoảng 30% tổng giá trị vốn hóa, với nhiều cổ phiếu có vai trò dẫn dắt như Vietcombank, BIDV, PV GAS, ACV, BSR...
Tuy nhiên, ông Thu cho biết hiện còn gần 70 doanh nghiệp có nguồn gốc từ cổ phần hóa chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông, trong đó có 21 doanh nghiệp thuộc nhóm F1 và 46 doanh nghiệp thuộc nhóm F2.
Theo quy định của Luật Chứng khoán, từ ngày 1/1/2027, công ty đại chúng phải bảo đảm tối thiểu 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ. Doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện có thể không còn đủ tư cách công ty đại chúng và phải thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định.
Ông Thu cho biết quy định về cơ cấu cổ đông không phải nội dung mới, mà đã được kế thừa từ các luật trước đây. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán sửa đổi quy định rõ thời hạn chuyển tiếp nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa và đáp ứng các tiêu chí phục vụ quá trình nâng hạng thị trường.
"Đây là quá trình sàng lọc cần thiết. Thực tế, sau khi Luật Chứng khoán được triển khai, đã có 194 doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện và phải rời sàn", ông Thu nói.
46 doanh nghiệp F2 phải chủ động đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông
Đối với 21 doanh nghiệp F1, Luật Quản lý và Đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cho phép tiếp tục duy trì niêm yết trong thời gian thực hiện phương án tái cơ cấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nếu quá thời hạn mà chưa có phương án được phê duyệt, các doanh nghiệp này sẽ phải xử lý theo quy định. Trong khi đó, 46 doanh nghiệp F2 phải chủ động đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông.
Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, việc xử lý dứt điểm các tồn tại trong cổ phần hóa và thoái vốn DNNN có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới.
Dẫn báo cáo của Bộ Tài chính, ông Thu cho biết kế hoạch giai đoạn 2022-2025 đặt mục tiêu cổ phần hóa 30 doanh nghiệp nhưng đến cuối năm 2025 chưa có doanh nghiệp nào hoàn thành. Trong danh mục 146 doanh nghiệp phải thoái vốn, mới có 17 doanh nghiệp hoàn tất, đạt 11,5%.
Theo ông Thu, bên cạnh những vướng mắc về cơ chế, một nguyên nhân lớn là tâm lý e ngại, sợ sai, dẫn đến chậm triển khai ở một số bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.
Để khắc phục, lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề xuất các doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa phải thực hiện nghiêm nghĩa vụ đưa cổ phiếu lên thị trường chứng khoán. Theo Nghị định 57/2026/NĐ-CP, trong vòng 90 ngày kể từ khi chuyển thành công ty cổ phần, doanh nghiệp đủ điều kiện phải đăng ký công ty đại chúng và niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên sàn.
Bên cạnh đó, cần mạnh dạn giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại những lĩnh vực không cần nắm giữ chi phối, qua đó tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua thoái vốn hoặc phát hành thêm cổ phiếu để đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao như PV GAS, Becamex IDC, Petrolimex, BSR, ACV hay Viettel Global đang đứng trước yêu cầu phải cải thiện cơ cấu cổ đông và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Một số doanh nghiệp như PLX, BCM, BSR dù đã có kế hoạch giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước nhưng tiến độ triển khai còn chậm.
Trong tinh thần Nghị quyết 79 về đổi mới mạnh mẽ cách thức vận hành kinh tế Nhà nước, câu chuyện cổ phần hóa vì vậy không chỉ dừng ở việc chuyển đổi hình thức sở hữu. Đây còn là yêu cầu tái phân bổ nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị và đưa vốn Nhà nước tập trung vào những lĩnh vực thực sự cần thiết, để khu vực kinh tế Nhà nước phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt, kiến tạo, điều tiết và mở đường cho tăng trưởng.
Quốc Trung - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận