Giải trí

Vị hoàng đế có hơn 100 phi tần, không phải con vua nhưng được kế vị ngai vàng, xây Tư lăng trong suốt 35 năm mới hoàn thành

Đây là vị vua thứ 9 của triều Nguyễn, trị vì trong hơn 3 năm, từ 1885-1889.

Vị vua đặc biệt của triều Nguyễn

Nhà Nguyễn (1802-1945) là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, trải qua 13 đời vua, từ vua Gia Long đến vua Bảo Đại, kéo dài hơn 140 năm với nhiều biến động lịch sử quan trọng. Trong số các vị vua của triều Nguyễn, Đồng Khánh là một nhân vật đặc biệt.

Theo ghi chép của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, vua Đồng Khánh sinh ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý, tức ngày 19/2/1864, với tên húy Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Ưng Biện...

Ông là con trai cả của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (1845-1876), người đã sinh ra 3 vị vua Kiến Phúc (1883-1884), Hàm Nghi (1884-1885) và Đồng Khánh (1885-1889). Dù là anh cả, ông lại trở thành người lên ngôi sau cùng trong số 3 anh em.

Vua Đồng Khánh được vua Tự Đức nhận làm con nuôi. Vì không có con, Tự Đức đã lấy con của em trai là Thoại Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Y) - tức Ưng Chân, cùng 2 người con của em trai Kiên Thái Vương là Ưng Kỷ và Ưng Đăng, làm con nuôi để đảm bảo người kế vị sau này.

Năm 2 tuổi, Ưng Kỷ đã được đưa vào cung. Tuy nhiên, trong 3 người con nuôi, Tự Đức yêu mến Ưng Đăng nhất (người sau trở thành vua Kiến Phúc), còn 2 người kia không được đánh giá cao. Dù vậy, Ưng Chân là con trưởng và đã trưởng thành, Tự Đức buộc phải chọn ông này làm người kế vị.

Vị hoàng đế có hơn 100 phi tần, không phải con vua nhưng được kế vị ngai vàng, xây Tư lăng trong suốt 35 năm mới hoàn thành - Ảnh 1.
Chân dung vua Đồng Khánh. Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất quân, ra Tuyên Hóa (Quảng Trị) lập căn cứ. Triều đình liền bàn bạc rồi đưa Ưng Kỷ lên ngôi trong tình thế rối loạn, làm trái di chiếu của vua Tự Đức.

Khi lên ngôi, Ưng Kỷ lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Theo giải thích từ sử liệu, “Đồng” mang ý nghĩa “chung” và “Khánh” nghĩa là “niềm vui mừng”, thể hiện kỳ vọng của triều đình Huế và chính quyền Pháp về sự hòa hợp giữa hai bên khi ông lên ngôi.

Sau khi lên ngôi, Đồng Khánh hạ chiếu ban ơn thiên hạ. Ông cùng triều đình đưa ra nhiều cải cách nhằm khôi phục kinh tế, tái thiết văn hóa và giáo dục. Nổi bật như kiểm soát giá cả, phát chẩn, hỗ trợ địa phương, miễn thuế cho dân... Tuy nhiên, do thời thế biến động, các chính sách này cũng bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, ông cũng là vị vua đầu tiên ban hành các quy định về huân chương. Theo đó, tùy theo cấp bậc, công trạng lớn nhỏ, hạng văn hạng võ... để có huân chương khác nhau. Hạng nhất là Khôi kỳ long tinh, hạng nhì là Chương hiền long tinh, hạng ba tên Biểu đức long tinh, hạng tư Minh nghĩa long tinh và hạng năm là Gia thiện long tinh.

Về võ, các thứ hạng lần lượt từ cao xuống thấp là Trác dị long tinh, Thù huân long tinh, Tinh năng long tinh, Tưởng trung long tinh, Khuyến công long tinh.

Vua Đồng Khánh còn chú trọng đào tạo ngoại ngữ. Ông đề cao việc phổ biến ngôn ngữ phương Tây cho dân chúng. Vì thế, tháng 4 năm Đinh Hợi (1887), ông cho mở trường dạy tiếng nước ngoài. Có thể nói, đây là trường ngoại ngữ đầu tiên của nước ta.

Vị hoàng đế có hơn 100 phi tần, không phải con vua nhưng được kế vị ngai vàng, xây Tư lăng trong suốt 35 năm mới hoàn thành - Ảnh 2.
Án thờ vua Đồng Khánh trong điện Ngưng Hy. Ảnh: Thanh Hòa/Báo ảnh Việt Nam.

Vị vua có hơn 100 phi tần

Giống như nhiều vị hoàng đế khác, vua Đồng Khánh cũng có hậu cung đông đảo với nhiều phi tần và mỹ nữ. Theo nhiều sử liệu, ông có hơn 100 bà vợ. Ông mong muốn khẳng định quyền uy và duy trì dòng dõi hoàng tộc của vua.

Ngay sau khi lên ngôi, vào tháng 8 năm Ất Dậu (1885), Đồng Khánh đã ban dụ phong tước cho các phi tần theo nhiều cấp bậc khác nhau như phi, tần, tiệp dư, quý nhân, mỹ nhân, tài nhân… Mỗi người được giao nhiệm vụ quản lý và phụ trách công việc trong tam cung, lục viện. Vua nhấn mạnh rằng, các phi tần phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định trong hậu cung, đồng thời “tề gia rồi trị quốc”, thể hiện quan niệm về mối quan hệ giữa quản lý gia đình và quản lý triều chính.

Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, vào tháng 2 năm Đinh Hợi (1887), Đồng Khánh lại ban dụ nêu rõ tội trạng và hình thức xử lý đối với các phi tần của mình. Một số bị khiển trách vì cử chỉ thô tục, một số khác vì lối sống chơi bời, tham lam hoặc đố kỵ. Hậu quả là nhiều phi tần bị giáng cấp, qua đó thể hiện kỷ luật nghiêm ngặt trong hậu cung của triều Nguyễn dưới triều vua Đồng Khánh.

Vị hoàng đế có hơn 100 phi tần, không phải con vua nhưng được kế vị ngai vàng, xây Tư lăng trong suốt 35 năm mới hoàn thành - Ảnh 3.
Tư lăng có công trình xây dựng trong nhiều năm, qua 4 đời vua. Ảnh: Thanh Hòa/Báo ảnh Việt Nam.

Tư lăng của vua Đồng Khánh

Trong hệ thống lăng tẩm các vua nhà Nguyễn, lăng của vua Đồng Khánh nhận được nhiều chú ý bởi lịch sử xây dựng kéo dài, phức tạp, trải qua 4 đời vua. Đặc biệt, đây cũng là công trình lăng hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn xuất hiện những dấu ấn kiến trúc Âu hóa, mở đầu cho phong cách kết hợp Đông - Tây.

Lăng vua Đồng Khánh có tên chữ là Tư Lăng, rộng khoảng 10.000m2, tọa lạc trên núi Cư Sĩ và đồi Hộ Thuận Sơn, thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Quần thể lăng tẩm này bao gồm lăng vua Đồng Khánh, khu mộ của cha ông cùng nhiều tẩm mộ của người thân trong gia đình hoàng tộc.

Công trình bắt đầu khởi công từ tháng 2/1888, khi ấy, vua Đồng Khánh cho xây điện Truy Tư bên cạnh lăng mộ cha để thờ cúng. Công trình chưa hoàn tất thì nhà vua qua đời vào năm 1889. Vì thế, vua Thành Thái sau khi lên ngôi đã đổi tên điện Truy Tư thành Ngưng Hy, làm nơi thờ vua Đồng Khánh. Nhà vua được an táng trên đồi Hộ Thuận Sơn, cách điện một quãng ngắn.

Đến năm 1916, khi vua Khải Định, con trai Đồng Khánh, lên ngôi, liền tu sửa, hoàn thiện lăng tẩm. Các công trình từ Bái đình (sân chầu), Bi đình (nhà bia), Bửu thành (khu vực an táng có tường bao quanh) đến Huyền cung (huyệt mộ) được kiến tạo, cơ bản hoàn thành vào tháng 7/1917, và đến năm 1923 mới hoàn tất toàn bộ. Như vậy, quá trình xây dựng lăng kéo dài khoảng 35 năm.

Tư Lăng gồm hơn 20 công trình lớn nhỏ, kiến trúc cơ bản theo lối cung đình triều Nguyễn, tuân thủ nguyên tắc phong thủy cổ truyền với hồ nước, vườn cây và bố cục dựa theo hình sông thế núi. Tổng thể lăng mang dáng vẻ uy nghi, tráng lệ và cảnh quan hữu tình, giống như một quần thể cung điện hơn là nơi an táng thông thường.

Điểm đặc sắc của lăng Đồng Khánh là sự pha trộn kiến trúc cung đình, dân gian và phương Tây. Điện Ngưng Hy vẫn giữ lối “trùng thiềm điệp ốc” truyền thống như các cung điện trong Hoàng thành Huế. Tuy nhiên, khu nhà bia mang phong cách tân cổ điển phương Tây pha nét Á Đông. Điện Ngưng Hy sau khi tu sửa dưới thời Khải Định cũng được trang trí theo lối phương Tây, nổi bật là hệ thống cửa kính nhiều màu phía trước, tạo nên vẻ rực rỡ khác biệt so với các công trình truyền thống.

Bên trong điện Ngưng Hy gồm 7 gian 2 chái với 100 cột gỗ lim, tất cả được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Phần mái và nóc điện được trang trí bằng ngói hoàng lưu li vàng rực kết hợp hàng trăm ô hộc với tranh, câu thơ chữ Hán bằng pháp lam ngũ sắc hoặc đất nung tráng men, tạo nên một tổng thể nghệ thuật thủ công tinh xảo và độc đáo của Huế xưa.

Trải qua thời gian, lăng Đồng Khánh bị xuống cấp nghiêm trọng. Từ năm 2018-2022, lăng được tu bổ, phục hồi. Hiện nay, lăng mở cửa đón khách tham quan, giữ gìn giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa của triều Nguyễn.

Bài viết tham khảo thông tin tại:

Vua Đồng Khánh rất biết... hưởng thụ cuộc sống - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Những chuyện ít biết về vua Đồng Khánh - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Một thoáng Tư lăng - chuyên trang báo ảnh điện tử đa ngữ, thuộc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN)

Linh Chi - nguoiquansat.vn

Theo Kiến Thức Đầu Tư | 2026-03-26 17:34