Vĩ mô

Việt Nam đối mặt bài toán khó khi vừa muốn tăng trưởng cao vừa phải giữ ổn định vĩ mô

Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tạo áp lực rất lớn lên công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát, tỷ giá và nhu cầu vốn tăng mạnh.

Phát biểu tại tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”, ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính (NHNN) nhận định giai đoạn 2026-2030 sẽ mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng mới cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều rủi ro và sức ép lớn hơn đối với điều hành chính sách.

Mặc dù cung tiền tăng 15,7% và tín dụng tăng 19%, nhưng lạm phát vẫn thấp
Việt Nam đối mặt bài toán khó khi vừa muốn tăng trưởng cao vừa phải giữ ổn định vĩ mô.

Theo ông Nguyễn Phi Lân, vấn đề quan trọng hiện nay là phải sớm nhận diện rõ các cơ hội và thách thức để có giải pháp ứng phó từ sớm, từ xa nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao.

Một trong những áp lực lớn nhất hiện nay là nguy cơ lạm phát gia tăng trong năm 2026 dưới tác động của căng thẳng địa chính trị và xung đột tại Trung Đông khiến giá dầu và nhiên liệu thế giới tăng mạnh.

Giá năng lượng leo thang không chỉ làm tăng chi phí sản xuất, vận tải mà còn kéo theo giá nhiều loại hàng hóa trong nước, đặc biệt là vật liệu xây dựng, qua đó tạo áp lực lớn lên kỳ vọng lạm phát và công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Ngoài áp lực lạm phát, Việt Nam cũng đang đứng trước nguy cơ nhập siêu trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu. Theo ông Nguyễn Phi Lân, điều này sẽ tạo thêm áp lực lớn lên tỷ giá trong bối cảnh NHNN đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất và ổn định thị trường ngoại hối.

“Đây sẽ là thách thức rất lớn đối với ngân hàng trung ương không chỉ trong năm 2026 mà còn trong cả giai đoạn 2026-2030”, ông Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh.

Ở góc độ tín dụng, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho rằng nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khi tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã lên tới khoảng 145%, trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng.

Theo bà Tùng, một rủi ro đáng chú ý hiện nay là cơ cấu nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, chiếm khoảng 80% tổng nguồn vốn bằng VND, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế lại rất lớn.

Điều này khiến các tổ chức tín dụng đối mặt với áp lực lớn trong việc cân đối nguồn vốn và bảo đảm an toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đang chịu áp lực huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Riêng năm 2026, nhu cầu vốn đầu tư dự kiến vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn tín dụng khoảng 1,8 triệu tỷ đồng.

Dù quy mô này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đề ra, song theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, việc tốc độ tăng trưởng huy động vốn liên tục thấp hơn tăng trưởng tín dụng sẽ khiến các ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực phục vụ tăng trưởng.

Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, ông Nguyễn Phi Lân cho rằng cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, NHNN sẽ tập trung điều hành thanh khoản phù hợp nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng và hỗ trợ nền kinh tế.

“Thanh khoản là yếu tố căn cơ và quan trọng nhất đối với hệ thống ngân hàng. Chỉ khi bảo đảm thanh khoản thì hệ thống mới có thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác”, ông Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng dư địa của chính sách tiền tệ hiện không còn nhiều, do đó nền kinh tế cần tập trung vào các động lực tăng trưởng mang tính cốt lõi và dài hạn.

Theo ông Nguyễn Quốc Anh, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy và giảm các tầng nấc trung gian để tháo gỡ điểm nghẽn trong phê duyệt dự án và thúc đẩy dòng vốn đầu tư.

Bên cạnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

“Đầu tư công tiếp tục đóng vai trò là ‘vốn mồi’ dẫn dắt đầu tư toàn xã hội. Vấn đề quan trọng không chỉ là giải ngân nhanh mà còn phải bảo đảm hiệu quả thực chất của các dự án đối với tăng trưởng kinh tế”, ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.

Khúc Văn - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-05-09 17:47