Nation Thailand cho rằng kinh nghiệm của Việt Nam là một ví dụ điển hình về tăng trưởng gắn với phân bổ lại nguồn lực.

Cụm từ “Việt Nam sắp vượt Thái Lan” - từng thu hút nhiều sự chú ý tại xứ sở chùa Vàng - gần đây lại xuất hiện với tần suất nhiều hơn trên truyền thông khu vực.
Theo Nation Thailand, nếu khoảng ba năm trước, những tiêu đề như vậy dễ tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều, thì hiện nay phản ứng của độc giả đã trở nên điềm đạm và thận trọng hơn. Thay vì cảm xúc mạnh, nhiều người lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề dưới góc độ thực tế và dài hạn.
Không ít bình luận thừa nhận Việt Nam đang tăng trưởng nhanh và có khả năng vượt lên, với những nhận định như “Việt Nam chắc chắn sẽ vượt Thái Lan” hay “Việt Nam cố lên!” xuất hiện ngày càng nhiều.
Sự thay đổi trong tâm lý công chúng đặt ra một câu hỏi đáng suy ngẫm: từ khi nào người Thái bắt đầu đánh mất niềm tin vào khả năng bắt kịp về kinh tế, nhất là khi trong thập niên 1980–1990, Thái Lan từng tự so sánh mình với Hong Kong (Trung Quốc), Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc)?
Từng được xem là “con hổ” kinh tế tương lai của châu Á, Thái Lan đã có giai đoạn tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, truyền thông nước này nhìn nhận mô hình tăng trưởng của họ khác biệt đáng kể so với Việt Nam, khi chủ yếu dựa trên lý thuyết “nhỏ giọt”, với kỳ vọng lợi ích từ tầng lớp giàu sẽ lan tỏa dần ra toàn xã hội.
Trong khi đó, Nation Thailand cho rằng kinh nghiệm của Việt Nam là một ví dụ điển hình về tăng trưởng gắn với phân bổ lại nguồn lực. Sau công cuộc Đổi Mới năm 1986, Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, tạo ra một thay đổi cấu trúc sâu rộng. Thành công nổi bật trong giảm nghèo bền vững được lý giải bằng chiến lược “tăng trưởng đi đôi với phân phối lại”.
Theo phân tích của báo Thái Lan, có ba yếu tố then chốt tạo nền tảng cho thành công của Việt Nam.
Thứ nhất là các yếu tố sản xuất. Việt Nam tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ mô hình hợp tác xã nông nghiệp và khôi phục quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Song song với đó là đầu tư mạnh vào nguồn nhân lực thông qua chương trình giáo dục cho mọi người, chuẩn bị lực lượng lao động phổ thông cho làn sóng FDI.
Thứ hai là cấu trúc sản xuất. Việt Nam từng bước chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ, chú trọng tạo việc làm để hấp thụ lao động phổ thông, đồng thời nâng cao kỹ năng theo thời gian.
Thứ ba là không gian sản xuất. Quốc gia này đầu tư mạnh vào hạ tầng nhằm kết nối nông thôn với các trung tâm phát triển. Đến năm 2018, 99,9% khu vực nông thôn đã được tiếp cận điện, đi kèm với quá trình phân quyền tài chính và hành chính, trao quyền quản lý ngân sách cho địa phương.
Nhờ những nền tảng đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 5-7% trong nhiều thập kỷ, tiếp tục giảm nghèo ngay cả trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 18 lần, dựa trên một cơ cấu kinh tế cơ sở tương đối vững chắc.
Các chuyên gia nước này cũng nhấn mạnh sẽ là không chính xác nếu cho rằng Thái Lan chỉ cần sao chép mô hình của Việt Nam. Tuy vậy, kinh nghiệm của Việt Nam mang lại một bài học quan trọng: muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình trong khi vẫn giải quyết bất bình đẳng, cần phải lồng ghép phân phối lại ngay từ trong chiến lược tăng trưởng.
Ví dụ, các cơ hội từ kinh tế số hay đầu tư hạ tầng quy mô lớn cần được thiết kế không chỉ để thúc đẩy tăng trưởng, mà còn nhằm cung cấp các cơ chế bảo trợ xã hội có mục tiêu cho người nghèo trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế. Chính sách phân cấp cần hướng đến việc lan tỏa thịnh vượng tới các vùng ngoại ô, đồng thời tạo việc làm và nâng cao chất lượng sống tại địa phương.
Mới đây, Nikkei Asia cũng đưa tin về sự dịch chuyển trong cục diện kinh tế Đông Nam Á. Trong khi kinh tế Thái Lan có dấu hiệu chững lại, Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng nhờ đẩy mạnh đầu tư công và phát triển hạ tầng. GDP Việt Nam tăng 8,02% trong năm 2025, và Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10% cho năm 2026 và các năm tiếp theo. Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cũng khẳng định tăng trưởng hai chữ số là khả thi.
Nếu duy trì được đà này, GDP danh nghĩa của Việt Nam có thể đạt mức trung bình trên 500 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2027, qua đó có khả năng vượt Thái Lan để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, sau Indonesia. GDP bình quân đầu người cũng có thể vượt mốc 5.000 USD, tiến gần mức của Indonesia.

Động lực tăng trưởng được cho là đến từ làn sóng đầu tư hạ tầng trên diện rộng. Theo TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng và Giám đốc Viện Đào tạo & Nghiên cứu tại Ngân hàng BIDV, kế hoạch đầu tư công năm 2026 dự kiến tăng khoảng 26%, có thể đóng góp thêm khoảng 1,6 điểm phần trăm cho tăng trưởng. Nhiều dự án lớn đang được triển khai, trong đó có sân bay quốc tế Long Thành dự kiến khai thác thương mại từ giữa năm 2026 và tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng ở phía Bắc.
Ở chiều ngược lại, triển vọng kinh tế Thái Lan được đánh giá kém tích cực hơn. OECD dự báo GDP thực tế của nước này chỉ tăng khoảng 1,5% trong năm 2026, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm trước. Nợ hộ gia đình gia tăng đang kìm hãm tiêu dùng, ngành du lịch phục hồi chậm, trong khi lĩnh vực sản xuất chịu tác động từ các mức thuế của Mỹ.
Nikkei Asia nhận định không chỉ Việt Nam mà cả Philippines cũng có khả năng vượt Thái Lan khi các động lực tăng trưởng của nền kinh tế này suy yếu.
Những biến động trong ngành ôtô phần nào phản ánh sự thay đổi cán cân kinh tế khu vực. Tại Indonesia, doanh số bán xe mới trong 10 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 660.000 chiếc, giảm khoảng 10% so với cùng kỳ, gần tương đương Malaysia - quốc gia có dân số chỉ bằng khoảng 1/10.
Một số tập đoàn Nhật Bản từng xem Thái Lan và Indonesia là cứ điểm sản xuất đang rà soát lại chiến lược, khi Suzuki rút khỏi sản xuất ôtô tại Thái Lan trong năm 2025 và Honda thu hẹp quy mô hoạt động.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận