Vĩ mô

Xuất khẩu hàng phụ trợ có giá trị hàng chục triệu USD mỗi năm, doanh nghiệp vẫn gặp khó khi xin hưởng ưu đãi

Dù tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng vẫn gặp khó khi xin hưởng ưu đãi do vướng điều kiện chứng minh sản phẩm và thủ tục hồ sơ phức tạp.

Thông tin này được nêu trong báo cáo tổng hợp khó khăn, vướng mắc liên quan đến các chính sách khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phản ánh nhanh hiện trạng thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) công bố.

Theo phản ánh của các hiệp hội và doanh nghiệp, dù Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 205/2025/NĐ-CP) đã quy định khá rõ về khái niệm và các hoạt động của ngành, nhưng trên thực tế việc xác định và chứng minh doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này vẫn gặp nhiều khó khăn.

Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, với giá trị xuất khẩu hàng phụ trợ lên tới hàng chục triệu USD mỗi năm.

Tuy nhiên, khi làm hồ sơ để hưởng chính sách ưu đãi, doanh nghiệp lại vướng ở khâu chứng minh sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển hoặc đáp ứng tiêu chí doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Theo Ban IV, tình trạng này khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ về tín dụng, thuế, đất đai hoặc các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, làm giảm hiệu quả thực thi của chính sách.

Bên cạnh đó, các điều kiện hồ sơ để được hưởng ưu đãi theo Điều 11 Nghị định 205/2025/NĐ-CP được cho là vẫn còn một số điểm chưa phù hợp với thực tiễn.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ nhiều năm trước khi xin hưởng ưu đãi phải chứng minh dự án mở rộng tối thiểu 20% so với quy mô ban đầu. Điều này buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư để bổ sung ngành nghề hoặc mở rộng sản xuất.

Trong quá trình thẩm định, doanh nghiệp phải giải trình nhiều nội dung liên quan đến việc mở rộng dự án, như việc dự án cũ chưa kết thúc nhưng đã bổ sung hạng mục sản xuất mới hoặc việc mở rộng có nhằm mục đích hưởng ưu đãi hay không.

Ngoài ra, trong trường hợp trên cùng một khu đất có hai hoạt động sản xuất công nghiệp hỗ trợ khác nhau, doanh nghiệp cũng gặp khó khi đề nghị áp dụng ưu đãi cho cả hai hoạt động.

Sau khi hoàn tất thủ tục điều chỉnh dự án, doanh nghiệp tiếp tục phải thực hiện các thủ tục liên quan như đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quá trình này có thể kéo dài gần một năm và phát sinh thêm chi phí.

Một số yêu cầu kỹ thuật để chứng minh sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển cũng được cho là chưa phù hợp với thực tế. Theo quy định, doanh nghiệp cần có chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật của Ủy ban Tiêu chuẩn hóa châu Âu (CEN) hoặc tương đương. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho biết sản phẩm của họ chủ yếu xuất khẩu sang thị trường như Nhật Bản (không yêu cầu tiêu chuẩn này).

Báo cáo của Ban IV cũng chỉ ra nhiều khó khăn trong việc thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với chi phí nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo (R&D).

Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 và Nghị định 320/2025/NĐ-CP, các khoản chi cho hoạt động R&D của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ tối đa 200% so với chi phí thực tế phát sinh.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cho biết quá trình chuẩn bị hồ sơ để hưởng chính sách này khá phức tạp do phải tham chiếu đồng thời nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nghị định hướng dẫn.

Trong đó, Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định các điều kiện chi phí được trừ về mặt thuế, còn Nghị định 265/2025/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung chi và hồ sơ của hoạt động R&D. Tuy nhiên, hiện chưa có hướng dẫn liên thông giữa hai hệ thống quy định này.

Theo phản ánh của doanh nghiệp, điều này khiến việc xác định hồ sơ và thủ tục để chứng minh chi phí R&D hợp lệ gặp nhiều lúng túng.

Ngoài ra, hồ sơ đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển hiện bao gồm nhiều loại tài liệu như báo cáo tiến độ, nhật ký thí nghiệm, báo cáo thử nghiệm, báo cáo nghiệm thu và báo cáo kết quả nghiên cứu. Doanh nghiệp cũng phải cung cấp minh chứng về kết quả nghiên cứu như sản phẩm mẫu, đơn đăng ký sáng chế, bài báo khoa học hoặc giấy chứng nhận sở hữu trí tuệ.

Phong Vân - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-13 17:01