Bộ Công Thương vừa có buổi làm việc với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu để đánh giá khả năng đẩy sớm lộ trình xăng sinh học E10 ngay từ tháng 4/2026.
Ngày 26/3/2026, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về khả năng đẩy sớm lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sinh học E10. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân chủ trì, với sự tham gia của đại diện nhiều bộ, ngành, hiệp hội và các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, nhà máy sản xuất ethanol trên cả nước.

Tại hội nghị, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã cùng rà soát toàn diện các điều kiện về hạ tầng, nguồn cung, cơ chế chính sách và khả năng vận hành thực tế, nhằm đánh giá khả năng triển khai xăng sinh học E10 sớm hơn lộ trình chính thức, có thể ngay trong tháng 4/2026.
Theo quy định hiện hành, lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam được xác định trong Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương. Theo đó, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phải được phối trộn để trở thành xăng sinh học E10 khi sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc. Đồng thời, xăng E5RON92 tiếp tục được duy trì đến hết ngày 31/12/2030.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết mục tiêu của cuộc họp là đánh giá khả năng đẩy sớm lộ trình triển khai xăng sinh học E10 lên ngay trong tháng 4/2026, thay vì mốc chính thức từ ngày 1/6/2026.
Theo Thứ trưởng, bối cảnh hiện nay đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là áp lực bảo đảm nguồn cung năng lượng. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương nghiên cứu khả năng rút ngắn lộ trình nếu các điều kiện thực tế cho phép.
Để có cơ sở đánh giá, Thứ trưởng đề nghị các bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp tập trung làm rõ một số vấn đề trọng tâm.
Trước hết là công tác chuẩn bị hạ tầng phục vụ việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10. Thứ hai là khả năng bảo đảm nguồn cung ethanol và tổ chức vận hành hệ thống ngay trong tháng 4. Bên cạnh đó là những khó khăn, vướng mắc về cơ chế quản lý nhà nước, tác động đến giá cả, chi phí, cũng như các đề xuất, sáng kiến nhằm rút ngắn lộ trình triển khai.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, nếu triển khai ngay trong tháng 4, mốc thời gian có thể là giữa tháng hoặc muộn nhất là ngày 30/4. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ hệ thống chỉ có khoảng 30 ngày để hoàn tất các khâu chuẩn bị. Đây là quỹ thời gian rất ngắn, đòi hỏi sự chuẩn bị khẩn trương và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Tại sự kiện, đại diện Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết hệ thống cơ sở phối trộn của doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Các hạng mục nâng cấp, cải tạo nhằm phục vụ chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng E10 đang được triển khai.
Theo kế hoạch, toàn bộ hệ thống sẽ hoàn thành nâng cấp vào khoảng ngày 10/4. Tuy nhiên, do một số thiết bị về chậm, tiến độ có thể lùi đến khoảng 10/5. Điều này đồng nghĩa với việc nếu triển khai ngay trong tháng 4, năng lực cung ứng của doanh nghiệp chưa thể đạt mức tối đa.
Về nguồn cung, Petrolimex cho biết xăng nền và ethanol cơ bản vẫn được bảo đảm. Tuy nhiên, nguồn ethanol trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 20–30% nhu cầu của doanh nghiệp, phần còn lại phải nhập khẩu.
Trong khi đó, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV OIL) cho biết đã triển khai kinh doanh thử nghiệm xăng E10 tại một số địa phương và 4 thành phố lớn từ năm 2025, với gần 100 cửa hàng xăng dầu. Thực tế cho thấy sản phẩm được thị trường chấp nhận và không phát sinh vấn đề đáng kể.
Doanh nghiệp hiện có 13 địa điểm pha chế trên toàn quốc với tổng công suất khoảng 300.000m3 mỗi tháng, dự kiến nâng lên 350.000 – 380.000m3 mỗi tháng vào cuối năm 2026. Theo PV OIL, với các điều kiện hiện có, doanh nghiệp có thể triển khai kinh doanh xăng E10 trên diện rộng từ trung tuần đến cuối tháng 4.
Một số doanh nghiệp khác như Saigon Petro hay Công ty Anh Phát cũng cho biết đã hoàn tất các điều kiện cơ bản và có thể bắt đầu bán xăng E10 trong hệ thống ngay từ tháng 4.
Theo tổng hợp của Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, năng lực pha chế của các doanh nghiệp hội viên hiện đạt khoảng 965.000m3 mỗi tháng, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu xăng sinh học trên toàn quốc.
Doanh nghiệp đề xuất hỗ trợ tài chính để tăng sản lượng ethanol
Theo ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn xăng E10 ước tính vào khoảng 92.000 – 100.000m3 mỗi tháng.
Tuy nhiên, năng lực sản xuất trong nước hiện còn hạn chế. Cả nước có 6 nhà máy ethanol nhưng chỉ 3 nhà máy đang vận hành. Tổng công suất thiết kế đạt khoảng 41.000m3 mỗi tháng, song sản lượng thực tế chỉ khoảng 25.000m3, tương đương 25–27% nhu cầu thị trường. Ngay cả khi huy động toàn bộ công suất, nguồn cung nội địa cũng chỉ đáp ứng khoảng 41% nhu cầu, buộc doanh nghiệp phải tính đến phương án nhập khẩu.
Theo đánh giá của Hiệp hội, nguồn cung ethanol quốc tế hiện chủ yếu đến từ Mỹ và Brazil, với hệ thống vận chuyển ổn định. Đáng chú ý, các tuyến hàng hải không đi qua khu vực Trung Đông nên ít chịu tác động từ xung đột địa chính trị. Bên cạnh đó, giá ethanol có mức biến động thấp hơn xăng dầu, giúp giảm rủi ro chi phí.
Tuy vậy, áp lực cạnh tranh nguồn hàng đang gia tăng khi nhiều quốc gia trong khu vực đẩy mạnh sử dụng xăng sinh học. Điều này có thể khiến các trung tâm trung chuyển như Singapore và Hàn Quốc chịu áp lực lớn. Trong bối cảnh đó, nếu doanh nghiệp trong nước không chủ động kế hoạch nhập khẩu sớm, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung hoặc phải mua với giá cao là hiện hữu.
Bên cạnh nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp cho rằng vẫn còn dư địa để gia tăng sản lượng ethanol trong nước nếu được tháo gỡ các rào cản về tài chính và thị trường.
Tại Nhà máy Ethanol Đồng Nai, doanh nghiệp cho biết đang vận hành ổn định với công suất khoảng 250m3 mỗi ngày, tương đương 7.000m3 mỗi tháng và đã đạt mức tối đa. Dây chuyền sản xuất có khả năng sử dụng linh hoạt nhiều loại nguyên liệu như ngô, sắn lát hoặc tấm gạo.
Trong khi đó, Nhà máy Ethanol Dung Quất (thuộc BSR) vừa đưa vào vận hành thương mại, với sản lượng hiện khoảng 6.000m3 mỗi tháng và có thể nâng lên 9.000m3 nếu điều kiện thị trường thuận lợi.

Ngoài ra, một số nhà máy từng tạm dừng hoạt động cũng được đánh giá là nguồn cung tiềm năng. Điển hình là Nhà máy Ethanol Bình Phước với công suất thiết kế khoảng 6.000m3 mỗi tháng. Theo doanh nghiệp, nếu được hỗ trợ tài chính và hoàn tất các hạng mục kỹ thuật, nhà máy có thể khôi phục hoạt động trong vòng 3–5 tháng.
Tuy nhiên, “nút thắt” lớn nhất hiện nay là vốn lưu động. Doanh nghiệp cho biết chưa đủ nguồn lực tài chính để tái vận hành, trong khi việc tiếp cận tín dụng ngân hàng còn nhiều khó khăn. Vì vậy, các doanh nghiệp kiến nghị cần có sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, nhằm xây dựng phương án tài chính khả thi để khôi phục sản xuất, tránh lãng phí nguồn lực đã đầu tư.
Thu Huyền - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức đầu tư
Bình luận
0 Bình luận