Tài chính ngân hàng

Chỉ 3/27 ngân hàng niêm yết đạt NIM trên 4%, áp lực chi phí vốn và CASA hiện rõ

Trong quý I/2026, biên lãi thuần (NIM) bình quân của 27 ngân hàng niêm yết thu hẹp về mức 2,85% do áp lực chi phí vốn tăng nhanh. Toàn hệ thống chỉ ghi nhận 3 ngân hàng duy trì được NIM trên ngưỡng 4%.

Áp lực chi phí vốn thu hẹp biên lãi thuần toàn nhóm

Thị trường tài chính quý I/2026 chứng kiến sự chuyển dịch không đồng nhất giữa quy mô tín dụng và hiệu quả biên lãi. Dù hoạt động giải ngân tiếp tục được đẩy mạnh, biên lãi thuần (NIM) bình quân của nhóm 27 ngân hàng niêm yết vẫn chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi tương xứng với đà tăng trưởng của tổng dư nợ.

Tính đến hết ngày 31/03/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt mức xấp xỉ 19,18 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 3,18% so với thời điểm cuối năm 2025. Con số này bám sát định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 15% của Ngân hàng Nhà nước, nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, hiệu quả sinh lời trên tài sản lại chịu áp lực đáng kể.

Dữ liệu từ các ngân hàng niêm yết cho thấy NIM bình quân toàn nhóm chỉ đạt khoảng 2,85%, sụt giảm 8 điểm cơ bản so với quý IV/2025 và thấp hơn 18 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước (3,03%). Xu hướng thu hẹp biên lãi diễn ra trên diện rộng khi có tới 22/27 ngân hàng ghi nhận NIM giảm so với quý trước và 23 đơn vị sụt giảm so với cùng kỳ.

nim.jpg
Chi tiết biến động NIM của 27 ngân hàng niêm yết giai đoạn Q1/2025 - Q1/2026

Nguyên nhân trọng yếu dẫn đến thực trạng này xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng của chi phí vốn (COF). COF bình quân theo quý đã tăng từ mức 1,15% lên 1,22% (tương đương mức tăng từ 4,59% lên 4,9% nếu quy đổi theo năm). Trong khi đó, lợi suất tài sản có sinh lãi (YEA) chỉ ghi nhận mức nhích nhẹ từ 1,83% lên 1,84% theo quý (khoảng 7,36% theo năm). Sự lệch pha này khiến biên độ lợi nhuận giữa đầu ra và đầu vào bị co hẹp trực tiếp.

nim_yea_cof_binh_quan_27_nhtm_niem_yet_q2_2023_q1_2026.png
Tương quan NIM, YEA và COF: Áp lực gọng kìm từ chi phí vốn

Trong bối cảnh đó, VPBank, HDBank và KienlongBank là ba đại diện hiếm hoi duy trì được chỉ số NIM trên mức 4%. VPBank tiếp tục dẫn dắt thị trường với NIM đạt 5,19%, theo sau là HDBank (4,35%) và KienlongBank (4,06%). Bình quân NIM của nhóm này đạt 4,53%, cao hơn 1,69 điểm phần trăm so với mặt bằng chung.

Phân khúc còn lại phân hóa rõ nét: nhóm có NIM từ 3% đến dưới 4% gồm các ngân hàng như MB, Techcombank, MSB, VIB, LPBank và Sacombank. Có tới 15 ngân hàng tập trung trong vùng 2% đến dưới 3%, và 3 đơn vị ghi nhận mức dưới 2% là Bac A Bank, Vietbank cùng NCB.

nim_q1_2026_27_nhtm_niem_yet.png
Xếp hạng biên lãi ròng quý I/2026: Sự phân cực giữa các nhóm quy mô

Về giá trị tuyệt đối, tổng thu nhập lãi thuần toàn nhóm đạt 150.605 tỷ đồng, tăng 16,59% so với cùng kỳ. VietinBank chiếm vị trí quán quân về thu nhập lãi thuần với 19.385 tỷ đồng, cùng với Vietcombank, VPBank, BIDV và MB đóng góp hơn 56% tổng thu nhập toàn ngành.

Sự phân cực tại nhóm dẫn đầu và các mô hình lợi suất

Dù cùng thuộc nhóm dẫn đầu về biên lãi, VPBank, HDBank và KienlongBank lại sở hữu những mô hình cấu trúc bảng cân đối và chiến lược kinh doanh khác biệt rõ rệt.

Tại VPBank, dù NIM có sự sụt giảm nhẹ so với các kỳ trước đó, ngân hàng này vẫn giữ vững vị thế số một nhờ nền lợi suất tài sản (YEA) vượt trội, đạt mức 2,5% theo quý. Chiến lược tập trung vào các phân khúc có biên lợi nhuận cao như doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và khách hàng cá nhân — vốn tăng trưởng lần lượt 8,4% và 7% trong quý — đã giúp ngân hàng bù đắp chi phí vốn cao hơn mặt bằng chung. Kết thúc quý I, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của VPBank đạt hơn 7.900 tỷ đồng, tăng trưởng 58% so với cùng kỳ năm trước.

HDBank duy trì vị trí thứ hai với cấu trúc tăng trưởng cân bằng. Tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng đạt 635.085 tỷ đồng, tăng 8%, cao hơn đáng kể so với mức tăng trưởng chung của hệ thống. Hiệu quả hoạt động của HDBank được minh chứng qua tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 24,29% và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức cao 16,16%. Với YEA quý đạt 2,23% và COF duy trì ở mức 1,34%, HDBank cho thấy khả năng tối ưu hóa chi phí đầu vào tốt hơn so với nhóm ngân hàng cùng quy mô.

Trong khi đó, KienlongBank đại diện cho nhóm ngân hàng quy mô nhỏ nhưng tối ưu hóa được biên lãi thông qua sự linh hoạt. Với YEA đạt 2,26%, chỉ thấp hơn VPBank trong nhóm dẫn đầu, ngân hàng này đã thúc đẩy lợi nhuận trước thuế tăng trưởng 50% đạt 522 tỷ đồng. Điểm đáng chú ý trong cấu trúc thu nhập của KienlongBank là sự đóng góp tích cực từ các mảng ngoài tín dụng như hoạt động ngoại hối và chứng khoán kinh doanh, với mức tăng trưởng lên đến 160%.

CASA suy yếu, lợi suất tài sản trở thành điểm phân hóa

Một trong những thách thức lớn nhất đối với biên lãi thuần trong quý I/2026 là sự suy giảm của tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA). Tỷ lệ CASA bình quân toàn nhóm đã giảm từ 15,18% xuống còn 13,77%, với 24/27 ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm ở chỉ tiêu này.

Việc nguồn vốn chi phí thấp bị thu hẹp buộc các tổ chức tín dụng phải gia tăng phụ thuộc vào tiền gửi có kỳ hạn và các nguồn vốn huy động khác với mức lãi suất cao hơn, trực tiếp đẩy chi phí vốn lên cao. Đáng chú ý, các ngân hàng sở hữu tỷ lệ CASA hàng đầu như Vietcombank (32,55%), MB (32,27%) hay Techcombank (31,45%) lại không phải là những đơn vị có NIM cao nhất.

Sự phân hóa này xuất phát từ chiến lược phân bổ tài sản sinh lãi. Điển hình như Vietcombank, dù sở hữu chi phí vốn thấp nhất hệ thống (0,65%), nhưng do tập trung vào nhóm khách hàng doanh nghiệp lớn và các khoản vay có độ an toàn cao nên lợi suất tài sản (YEA) chỉ đạt 1,31%, dẫn đến NIM duy trì ở mức 2,64%. Ngược lại, các ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp như KienlongBank (5,92%) vẫn đạt NIM cao nhờ khả năng duy trì lợi suất đầu ra ở mức tốt.

Áp lực chi phí lãi vay đang trở nên rõ nét khi tổng chi phí lãi của 27 ngân hàng tăng 41,96%, nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng 29,84% của tổng thu nhập lãi. Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi đã tăng lên mức 57,1%, phản ánh áp lực cạnh tranh huy động vốn trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi (12,83%) đang tụt hậu so với tăng trưởng tín dụng (19,25% so với cùng kỳ).

Bên cạnh áp lực chi phí, chất lượng tài sản cũng là yếu tố tác động gián tiếp đến NIM thông qua các khoản lãi dự thu và trích lập dự phòng. Tỷ lệ nợ xấu bình quân của toàn nhóm đã tăng từ 2,41% lên 2,58% trong quý đầu năm. Việc duy trì biên lãi cao đồng thời kiểm soát tốt rủi ro nợ xấu và đảm bảo tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) sẽ là bài toán then chốt đối với các ngân hàng trong các quý tiếp theo của năm 2026.

Trường Thanh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư