Vĩ mô

Giá xăng dầu tăng, tỷ giá chịu áp lực: Chiến sự Trung Đông và hàm ý với kinh tế Việt Nam

Tác động từ chiến sự Trung Đông tới kinh tế Việt Nam không chỉ dừng ở một vài lĩnh vực riêng lẻ mà lan rộng trên nhiều mặt.

Tỷ giá có thể tăng khoảng 2-3% và sẽ biến động hơn nếu xung đột kéo dài

Báo cáo đánh giá nhanh tác động của chiến sự với kinh tế thế giới và Việt Nam Trung Đông do TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV vừa công bố cho thấy, Việt Nam - với đặc trưng là nền kinh tế mở, hội nhập sâu rộng - đang chịu ảnh hưởng rõ rệt, cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Các tác động này không chỉ dừng ở một vài lĩnh vực riêng lẻ mà lan rộng trên nhiều mặt của nền kinh tế, từ năng lượng, thương mại, tỷ giá đến tâm lý thị trường.

Trong đó, năng lượng là lĩnh vực chịu sức ép lớn nhất. Giá xăng dầu và khí đốt tăng nhanh trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, dù trong nước đã có sự hỗ trợ nhất định từ Quỹ bình ổn giá.

Hiện hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Bình Sơn mới chỉ đáp ứng khoảng 68% nhu cầu, phần còn lại Việt Nam vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu.

Tổng nhu cầu xăng dầu và khí đốt khoảng 26,65 triệu tấn, trong khi nguồn cung nội địa chỉ đạt khoảng 14,5 triệu tấn, tương đương 54,4%. Điều này khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ thị trường năng lượng quốc tế, đặc biệt khi nguồn cung nhập khẩu có sự phụ thuộc lớn vào khu vực Trung Đông.

dienbiengia-9118-859.jpg

Không chỉ dừng ở năng lượng, tác động còn lan sang thương mại và logistics. Chuỗi cung ứng bị gián đoạn khiến chi phí vận chuyển, bảo hiểm và bảo quản hàng hóa tăng mạnh, nhất là với các mặt hàng nông - thủy sản.

Năm 2025, khu vực Trung Đông nhập khẩu khoảng 1,74 tỷ USD nông - thủy sản từ Việt Nam, chiếm hơn 2% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành này.

Tuy nhiên, trong khó khăn cũng xuất hiện cơ hội khi nhu cầu từ các thị trường khác như châu Âu hay châu Phi gia tăng do sự đứt gãy của các chuỗi cung ứng truyền thống, tạo dư địa để doanh nghiệp Việt chuyển hướng thị trường.

kichbanchientranh-143-198.jpg

Một áp lực đáng chú ý khác đến từ tỷ giá. Theo báo cáo, đồng USD có xu hướng mạnh lên trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng, cùng với việc chỉ số giá nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, khiến tỷ giá USD/VND chịu áp lực đi lên.

Theo kịch bản cơ sở, tỷ giá có thể tăng khoảng 2-3% trong năm 2026 và sẽ biến động mạnh hơn nếu xung đột kéo dài, qua đó thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ.

Ở góc độ gián tiếp, yếu tố tâm lý đang tạo ra những tác động không kém phần đáng kể. Khi bất định gia tăng, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người tiêu dùng có xu hướng thận trọng hơn.

Điều này khiến cả phía cung lẫn phía cầu cùng suy yếu: doanh nghiệp trì hoãn đầu tư, chi phí đầu vào tăng làm giảm sản xuất; trong khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu.

Hệ quả là tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 có thể giảm 0,5-1 điểm %, thậm chí tới 2 điểm % trong kịch bản tiêu cực. Dòng vốn FDI dù vẫn giữ niềm tin dài hạn vào môi trường Việt Nam nhưng có thể giảm nhẹ trong ngắn hạn, với mức giảm khoảng 0,5-1 điểm %, thậm chí 1,5-2 điểm % nếu tình hình xấu hơn.

Những tác động tổng hợp này cuối cùng phản ánh rõ nhất qua hai biến số vĩ mô quan trọng là lạm phát và tăng trưởng.

Cũng theo báo cáo, do nhiên liệu chiếm khoảng 4% và giao thông chiếm gần 9,7% trong rổ CPI, biến động giá dầu thế giới sẽ nhanh chóng truyền dẫn vào lạm phát trong nước.

Ở kịch bản cơ sở, CPI năm 2026 có thể tăng thêm 0,3-0,5 điểm %, vẫn nằm trong mục tiêu 4-4,5%. Tuy nhiên, nếu giá dầu duy trì ở mức 95-100 USD/thùng, lạm phát có thể bị đẩy lên 4,5-5%.

Đồng thời, tăng trưởng GDP cũng chịu sức ép từ cả xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư, với mức giảm khoảng 0,6-0,8 điểm % trong kịch bản cơ sở và có thể lên tới 1,2-1,5 điểm % nếu xung đột kéo dài.

Đề xuất sớm giảm thuế, phí xăng dầu liên quan và linh hoạt sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu

Ở góc độ doanh nghiệp, áp lực chi phí đang hiện hữu rõ ràng. Tại cuộc họp ngày 17/3 do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) tổ chức tại TP.HCM, nhiều doanh nghiệp cho biết đang nỗ lực giữ giá nhưng khó duy trì lâu dài nếu không có thêm hỗ trợ.

Các kiến nghị tập trung vào việc giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, kéo dài chính sách giảm thuế giá trị gia tăng xuống 8%, đồng thời gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất để cải thiện dòng tiền. Bên cạnh đó, việc rút ngắn thời gian thông quan, tháo gỡ vướng mắc trong nhập khẩu nguyên liệu và hỗ trợ lãi suất vay cũng được xem là những giải pháp cấp thiết.

Song song, các cơ quan chuyên ngành cũng đề xuất giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng, tiếp tục giảm phí, lệ phí trong lĩnh vực vận tải như phí hàng không, phí cảng bến và hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp vận tải nhằm giảm áp lực chi phí lan tỏa.

thuc-trang-phat-trien-nganh-logistics-tai-thanh-pho-ho-chi-minh.jpg
Không chỉ dừng ở năng lượng, tác động từ chiến sự Trung Đông còn lan sang thương mại và logistics

Trong bối cảnh bất định gia tăng, khó lường, TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu khuyến nghị Chính phủ, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong ngắn hạn, ưu tiên cao nhất là không để cú sốc xăng dầu và đứt gãy chuỗi cung ứng chuyển thành cú sốc nguồn cung năng lượng, giá cả và tạo sức ép lớn lên lạm phát.

Trong đó, Chính phủ xem xét kiện toàn Tổ phản ứng nhanh, xây dựng kịch bản ứng phó, bảo đảm đủ nguồn cung xăng dầu, đa dạng hóa nhập khẩu dầu khí, và tăng cường kiểm tra để ngăn ngừa đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý. Chính phủ xem xét phát động Chiến dịch tiết kiệm năng lượng toàn quốc.

Cùng với đó, cần sớm giảm thuế, phí xăng dầu liên quan và linh hoạt sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu để hạn chế biến động quá mạnh nhưng không làm méo mó thị trường. Đồng thời, cần sớm ban hành quy định mới về kinh doanh xăng dầu, đảm bảo hài hòa lợi ích các bên liên quan và cân đối cung - cầu.

Ở góc độ vĩ mô, cần xây dựng các kịch bản tăng trưởng, lạm phát gắn với các biện pháp điều hành khác nhau, trong đó phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và chính sách vĩ mô khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, trong đó cần cân bằng giữa tỷ giá và lãi suất (bình ổn lãi suất là cần thiết cho tăng trưởng và ổn định thị trường nhưng cũng cần hợp lý nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ giá).

Về dài hạn, bài toán cốt lõi vẫn là củng cố an ninh năng lượng. Điều này bao gồm đa dạng hóa nguồn cung, tăng dự trữ chiến lược, thúc đẩy tiết kiệm năng lượng và đẩy nhanh triển khai các quy hoạch điện.

Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường năng lượng, phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro giá và tiếp tục đầu tư vào hạ tầng, nhân lực để tận dụng làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong một thế giới đầy biến động, chiến sự Trung Đông không chỉ là câu chuyện địa chính trị mà đã trở thành phép thử đối với sức chống chịu của nền kinh tế. Với Việt Nam, thách thức là rõ ràng, nhưng cơ hội vẫn tồn tại nếu phản ứng chính sách đủ nhanh, đủ linh hoạt và cộng đồng doanh nghiệp kịp thời thích ứng.

Mai Anh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-18 19:06