Giải trí

Huy động 8.300 kỹ sư, công nhân lặn sâu 50m, phun sơn, phun cát cùng 53.000 tấn thép, xây ‘công trình thế kỷ’ từng dài nhất Việt Nam

Được áp dụng những công nghệ hiện đại nhất, đây là “công trình thế kỷ” của Việt Nam tại thời điểm khánh thành.

Cầu Thăng Long là cây cầu thứ 2 bắc qua sông Hồng tại Hà Nội sau cầu Long Biên, được khởi công ngày 26/11/1974 và khánh thành ngày 9/5/1985, sau 11 năm thi công liên tục.

Công trình đặt tại km6+300 trên trục đường Nam Thăng Long, kết nối trực tiếp trung tâm Hà Nội với sân bay quốc tế Nội Bài, cách cầu Long Biên khoảng 11km về phía thượng lưu. Đây là một trong những công trình tiêu biểu của giai đoạn hợp tác Việt Nam - Liên Xô, đồng thời giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử phát triển hạ tầng giao thông miền Bắc.

ctk2.jpg
Cầu Thăng Long nhìn từ trên cao. Ảnh: Internet

“Công trình thế kỷ” của Việt Nam thời bấy giờ

Cầu Thăng Long có 2 tầng. Tầng dưới, ở giữa là 2 tuyến đường sắt (thiết kế theo khổ ray 1.435mm), 2 bên là đường xe thô sơ 3,5m (có thể chạy ô tô 10 tấn). Tầng trên là đường ô tô rộng 15m, cho 4 làn xe chạy; 2 bên là đường cho người đi bộ rộng 1,5m. Chiều dài toàn cầu tính theo đường sắt (tầng dưới) hơn 5,5km, tính theo đường ô tô (tầng trên) hơn 3,1km, theo đường xe thô sơ hơn 2,6km.

Với tổng chiều dài toàn bộ cầu khoảng 10,7km, Thăng Long là cây cầu dài nhất Việt Nam tính ở thời điểm đó. Phần cầu chính (vượt sông) gồm 15 nhịp dầm thép, khẩu độ mỗi nhịp 112m. Móng trụ cầu chính đều dùng giếng chính. Phần cầu dẫn ở 2 bên bờ đều dùng dầm bê tông dự ứng lực. Các trụ dẫn cầu đều dùng móng cọc ống phi 55cm.

ctk1.jpg
Đây là cây cầu thứ 2 bắc qua sông Hồng ở Hà Nội sau cầu Long Biên. Ảnh: Internet

Ý tưởng xây dựng cầu Thăng Long được hình thành từ đầu thập niên 1960 nhằm mở hướng kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên, Phú Thọ. Đến khoảng năm 1971, Việt Nam bắt đầu đàm phán với Trung Quốc về hỗ trợ xây dựng công trình. Đồng chí Trường Chinh đã chính thức đề nghị đặt tên cầu Thăng Long.

Giai đoạn đầu, dự án do phía Trung Quốc khảo sát, thiết kế và thi công một phần. Các trụ cầu đầu tiên được triển khai tại khu vực xã Đông Ngạc (Từ Liêm cũ) và xã Hải Bối (Đông Anh). Tuy nhiên, đến năm 1978, khi mới hoàn thành 9/14 trụ cầu, các chuyên gia Trung Quốc rút về nước, khiến công trình đứng trước nguy cơ đình trệ.

ctk6.jpg
Các chuyên gia từ Trung Quốc đã đến khảo sát và giúp Việt Nam xây dựng những trụ cầu đầu tiên. Ảnh: Internet

Cuối năm 1978, Liên Xô quyết định viện trợ không hoàn lại để tiếp tục xây dựng cầu. Hàng trăm lượt chuyên gia được cử sang công trường, trực tiếp tham gia từ thiết kế, tư vấn kỹ thuật, giám sát đến quản lý dự án. Thiết kế công trình được điều chỉnh theo hướng hiện đại hơn, trong đó thay thế công nghệ đinh tán bằng bu lông cường độ cao và chuyển sang kết cấu mặt cầu thép bản trực hướng.

ctk7.jpg
Đoàn chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam thực hiện dự án xây cầu Thăng Long. Ảnh: Internet

Từ giữa năm 1979, các đoàn chuyên gia Liên Xô bắt đầu sang làm việc ở công trường cầu Thăng Long trong điều kiện công trường thiếu vật liệu, nhiều hạng mục dở dang. Những kỹ thuật mới như móng giếng chìm chở nổi, thi công ở độ sâu tới 40m trong nền địa chất phức tạp, lắp hẫng dầm thép quy mô lớn được áp dụng.

Việc thi công cầu Thăng Long do Xí nghiệp Liên hợp cầu Thăng Long đảm nhiệm (gồm 4 xí nghiệp cầu, 1 xí nghiệp cơ giới). Lực lượng kỹ sư, công nhân lúc đầu có 1.600 người, sau tăng lên 8.300 người. Quá trình thi công kéo dài trong điều kiện thiếu thốn vật tư, lương thực và chịu tác động của thời tiết khắc nghiệt. Công nhân làm việc trong hố móng sâu, môi trường lạnh ẩm hoặc trên các dầm thép giữa nắng nóng.

ctk15.jpg
Lần đầu tiên, các kỹ sư và công nhân Việt Nam được tiếp xúc với nhiều vấn đề về tổ chức thi công và phương pháp kỹ thuật mới. Ảnh: Internet
ctk13.jpg
Những công việc phun cát, phun sơn, lắp hẫng các dàn dầm thép bằng bu-lông cường độ cao đã được bàn tay của người thợ cầu Thăng Long dựng lên. Ảnh: Internet

Trong quá trình xây dựng, đội ngũ kỹ sư và công nhân Việt Nam được đào tạo trực tiếp các kỹ thuật mới như lặn sâu tới 50m, hàn tự động, phun sơn, phun cát, lắp hẫng các dàn dầm thép bằng bu-lông cường độ cao. Đây là công trình đầu tiên lực lượng trong nước tham gia trực tiếp thi công một cây cầu quy mô lớn theo công nghệ hiện đại.

Giai đoạn chuẩn bị kéo dài gần 2 năm, bao gồm giải phóng hơn 190ha đất thuộc 8 xã của Đông Anh và Từ Liêm, xây dựng gần 50km đường sắt, 20km đường ô tô, hơn 10.000m² nhà ở và hệ thống nhà xưởng phục vụ thi công.

Khối lượng vật tư sử dụng cho công trình rất lớn, với hơn 53.000 tấn thép, 230.000 m³ bê tông, gần 60.000 tấn xi măng, khoảng 26.000 tấn dầm thép, 6.500 tấn bản trực hướng bằng thép hợp kim cường độ cao, gần 1.000 phiến dầm bê tông dự ứng lực và khoảng 110.000m cọc ống bê tông.

ctk8.jpg
Ảnh: Internet
ctk10.jpg
Ảnh: Internet

Sau hơn 3 năm thi công, các công nhân trên công trường đã hợp long dầm thép cuối cùng vào ngày 18/10/1983. Ngày 25/1/1984, cầu Thăng Long được thông xe 2 bên đường cánh gà tại tầng 1. Ngày 9/5/1985, người dân hai bờ sông Hồng thuộc huyện Đông Anh và Từ Liêm (cũ) đón sự kiện trọng đại: Khánh thành và thông xe cầu Thăng Long.

ctk11.jpg
Tổng Bí thư Lê Duẩn (người mặc áo đen, đội mũ), Bộ trưởng GTVT Đồng Sĩ Nguyên và chuyên gia Liên Xô đi bộ trên mặt thép tầng 2 của cầu Thăng Long. Ảnh: Internet
ctk12.jpg
Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười và Đại sứ Liên Xô tại lễ cắt băng khánh thành cây cầu. Ảnh: Internet

Ở thời điểm hoàn thành, cầu Thăng Long là cây cầu dài nhất Việt Nam và thuộc nhóm công trình có quy mô lớn trong khu vực Đông Nam Á. Nhiều công nghệ lần đầu được áp dụng như lắp dầm thép quy mô lớn, sử dụng bu lông cường độ cao thay cho đinh tán, triển khai hệ thống tụ nhiệt và các giải pháp vật liệu đặc thù cho mặt cầu thép.

Biểu tượng của tình hữu nghị Việt - Xô

Ngày cầu Thăng Long chính thức thông xe, người dân Thủ đô chứng kiến màn pháo hoa chào mừng công trình giao thông hiện đại bậc nhất Việt Nam thời điểm đó đi vào hoạt động. Sự kiện không chỉ đánh dấu việc hoàn thành một dự án hạ tầng quy mô lớn, mà còn mở ra giai đoạn mới trong kết nối giao thông phía Bắc Hà Nội.

Quá trình thi công kéo dài 11 năm đã tạo môi trường thực tiễn để đào tạo và rèn luyện một thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân trong nước. Từ công trường này, lực lượng lao động kỹ thuật cao từng bước làm chủ công nghệ xây dựng cầu hiện đại, tham gia triển khai nhiều công trình giao thông với tỷ lệ nội địa hóa ngày càng lớn, góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng quốc gia.

cầu Thăng Long đã góp phần không nhỏ trong giao thông, vận chuyển hàng hóa, giao thương giữa các tỉnh phía bắc với Thủ đô Hà Nội.
Cầu Thăng Long đã góp phần không nhỏ trong giao thông, vận chuyển hàng hóa, giao thương giữa các tỉnh phía Bắc với Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Internet

Sau khi hoàn thành, hiệu quả khai thác ban đầu chưa cao do hạ tầng kết nối chưa đồng bộ và phương tiện cơ giới còn hạn chế. Người dân chủ yếu sử dụng xe đạp, việc di chuyển qua cầu gặp khó khăn vì độ dốc lớn và chiều dài tuyến.

Tình trạng này thay đổi từ thập niên 1990, khi tuyến đường nối sân bay Nội Bài được đầu tư hoàn chỉnh. Lưu lượng phương tiện tăng nhanh, cầu Thăng Long trở thành trục giao thông quan trọng, góp phần hình thành các đầu mối giao thông khu vực phía Bắc Thủ đô, đặc biệt tại Đông Anh và Từ Liêm.

Cầu Thăng Long là công trình hiếm có tại Việt Nam đảm nhiệm đồng thời nhiều chức năng: đường bộ, đường sắt và hạ tầng kỹ thuật. Đây cũng là cầu duy nhất cho phép tàu hỏa và ô tô khai thác trên 2 tầng riêng biệt.

Sau nhiều năm vận hành, mặt cầu xuất hiện hư hỏng và phải sửa chữa nhiều lần. Năm 1999, cầu được thảm lại bê tông nhựa. Năm 2009, lớp phủ SMA được áp dụng nhưng nhanh chóng xuống cấp, dẫn đến các đợt sửa chữa lớn giai đoạn 2011-2012.

Ngày 16/8/2020, dự án đại tu quy mô gần 270 tỷ đồng được triển khai, bóc toàn bộ lớp mặt cầu cũ và thay thế bằng công nghệ mới. Trước đó, công trình đã trải qua hàng chục lần sửa chữa nhỏ với tổng kinh phí lớn.

ctk14.jpg
Đến nay, cầu đã trải qua nhiều lần đại tu. Ảnh: Internet

Trong 3 ba thập niên khai thác, cầu Thăng Long giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa và đi lại, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc. Lưu lượng phương tiện qua cầu tăng dần theo quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đưa công trình trở thành một trong những trục giao thông huyết mạch của khu vực.

Hiện nay, tại khu vực đầu cầu vẫn còn đặt biểu tượng hữu nghị Việt - Xô. Hình ảnh cách điệu kết hợp giữa dáng “Rồng bay” và cánh buồm thể hiện dấu ấn hợp tác quốc tế trong xây dựng công trình, đồng thời mang ý nghĩa về sự phát triển bền vững và kết nối lâu dài.

Anh Khôi - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-03-25 17:30