Trong vài phiên đầu tháng 2/2026, lãi suất VNIBOR kỳ hạn ngắn tăng vọt, nới rộng chênh lệch với kênh OMO 4,5% trong bối cảnh thanh khoản VND co hẹp. Bên cạnh OMO, NHNN mở thêm kênh cung ứng kỳ hạn 21 ngày thông qua hoán đổi USD/VND với hạn mức tối đa 1 tỷ USD.
Thanh khoản co hẹp và nhịp ‘vọt’ của lãi suất VNIBOR qua đêm
Giai đoạn 31/01–04/02/2026, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh ở các kỳ hạn rất ngắn, với đỉnh căng thẳng rơi vào phiên 03/02/2026.
Trong phiên này, VNIBOR qua đêm có thời điểm lên khoảng 17%/năm; kỳ hạn 1 tuần khoảng 15%/năm; kỳ hạn 1 tháng khoảng 9,5%/năm. Diễn biến này đi cùng trạng thái lớp dự trữ thanh toán mỏng hơn, trong bối cảnh ba dòng tiền đồng thời tác động: dòng nộp ngân sách theo lịch nghĩa vụ thuế, dòng rút tiền mặt cận Tết và nhịp điều chuyển ngân quỹ của Kho bạc Nhà nước.

Về lịch nghĩa vụ, tháng 1 thường tập trung phần kê khai của kỳ tháng 12/2025 và nghĩa vụ tạm nộp quý IV/2025. Các thời điểm hay được theo dõi là ngày 20/01/2026 đối với nhóm sắc thuế kê khai theo tháng của kỳ tháng 12/2025 và ngày 30/01/2026 đối với thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý IV/2025. Thời điểm cuối tháng thường trùng thời điểm khóa sổ, tất toán kế toán và sắp xếp dòng tiền cuối kỳ của doanh nghiệp.
Từ năm 2026, lệ phí môn bài không còn tạo thêm một nhịp nghĩa vụ vào cuối tháng 1. Nghị quyết 198/2025/QH15 quy định chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 01/01/2026, nên cuối tháng 1/2026 không phát sinh kỳ nộp theo thông lệ trước đó.
Cũng theo Nghị quyết này, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh không áp dụng phương pháp khoán thuế từ ngày 01/01/2026; nghĩa vụ kê khai và nộp thuế vì vậy gắn với tài khoản ngân hàng thường xuyên hơn, nhưng không đồng nghĩa tỷ trọng nộp thuế bằng tiền mặt tăng.
Ở kênh nộp ngân sách, hình thức chủ đạo là chuyển khoản. Khi người nộp thuế chuyển khoản, số dư tiền gửi tại ngân hàng thương mại giảm và tăng tương ứng trên tài khoản thu ngân sách của Kho bạc Nhà nước.
Theo cơ chế điều chuyển ngân quỹ, một phần số dư trên tài khoản thanh toán của Kho bạc tại ngân hàng thương mại có thể được chuyển về tài khoản Kho bạc mở tại Ngân hàng Nhà nước theo nhịp cuối ngày, làm dự trữ thanh toán của hệ thống tại Ngân hàng Nhà nước giảm trong ngắn hạn. Độ lệch thời gian giữa nhịp thu và nhịp chi có thể khiến phần dự trữ rút ra trước khi dòng chi quay lại, làm áp lực tập trung ở các kỳ hạn qua đêm đến một tuần.
Song song với dòng ngân sách, nhu cầu tiền mặt tăng theo yếu tố mùa vụ trước Tết Nguyên đán cũng làm lớp đệm dự trữ mỏng hơn. Mùng 1 Tết Nguyên đán 2026 rơi vào ngày 17/02/2026, nên từ cuối tháng 1 các ngân hàng bước vào giai đoạn chuẩn bị tiền mặt phục vụ chi trả và tiêu dùng.
Khi khách hàng rút tiền mặt, tổ chức tín dụng tăng xuất quỹ, tăng tiếp quỹ và chuyển một phần từ số dư trên tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước sang tiền mặt lưu hành, làm giảm khối dự trữ sẵn sàng cho thanh toán liên ngân hàng.
Trạng thái thanh khoản VND của hệ thống thường được theo dõi thông qua số dư tiền gửi thanh toán VND không kỳ hạn của các ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước (thông qua tài khoản Citad), phản ánh lượng vốn khả dụng phục vụ thanh toán liên ngân hàng, bao gồm phần dự trữ bắt buộc và phần dự trữ vượt mức. Cuối tháng 12/2025, số dư này ở khoảng 632 nghìn tỷ đồng; đến cuối tháng 01/2026 giảm xuống quanh 268 nghìn tỷ đồng, trong khi nhu cầu thanh khoản vận hành được ước tính khoảng 300 nghìn tỷ đồng.
Tại ngày 03/02/2026, số dư tăng trở lại lên khoảng 360 nghìn tỷ đồng, song biên an toàn thanh khoản đã thu hẹp đáng kể so với cuối năm, khiến chỉ cần sai lệch nhỏ trong dự báo dòng tiền cũng có thể nhanh chóng chuyển thành nhu cầu vay bù rất ngắn hạn tại một số thời điểm trong ngày.
Ngày 03/02/2026, số dư Citad ở khoảng 360 nghìn tỷ đồng, cho thấy phần dự trữ vượt mức đã thu hẹp so với cuối năm và sai lệch nhỏ trong dự báo dòng tiền có thể nhanh chóng chuyển thành nhu cầu vay bù ngắn hạn tại một số thời điểm trong ngày.
Trong trạng thái thanh khoản VND thu hẹp, áp lực vốn ngắn hạn thường không phân bổ đồng đều trong hệ thống. Chi phí vốn vì vậy phân hóa giữa các tổ chức tín dụng: nhu cầu vay tập trung ở nhóm thiếu hụt thanh khoản, trong khi khả năng tiếp cận các kênh vốn chi phí thấp khác nhau tùy danh mục tài sản đủ chuẩn, hạn mức giao dịch và yêu cầu quản trị rủi ro nội bộ của từng ngân hàng.
Khi lãi suất cầm cố trên kênh thị trường mở được duy trì ở mức 4,5%/năm, chênh lệch giữa mặt bằng này và lãi suất qua đêm hai chữ số là chỉ dấu cho thấy tình trạng thiếu hụt mang tính cục bộ và mức độ “chạm được” kênh vốn rẻ của từng tổ chức.
Ngoài ra, từ ngày 01/01/2026, một số thay đổi quy định cũng làm hệ thống nhạy hơn với dịch chuyển tiền gửi Kho bạc trong một số tỷ lệ an toàn. Theo lộ trình áp dụng tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn của KBNN bị loại trừ hoàn toàn khỏi tổng tiền gửi để tính tỷ lệ này, khiến biến động ngắn hạn của nhóm tiền gửi quy mô lớn có thể truyền sang nhu cầu vốn rất ngắn hạn nhanh hơn ở các ngân hàng có mức phụ thuộc cao.
Hoán đổi ngoại tệ 1 tỷ USD: Kênh bơm VND theo kỳ hạn 21 ngày
Ngày 03/02/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mở rộng hỗ trợ thanh khoản qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), chào thầu khoảng 118.000 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày với cùng mức lãi suất 4,5%/năm. Khối lượng bơm ròng trên kênh này được ghi nhận hơn 65.000 tỷ đồng, đưa dư nợ cầm cố lưu hành lên trên 441.000 tỷ đồng vào cuối ngày 03/02, trước khi tiếp tục tăng trong phiên 04/02.

Song song với kênh OMO, NHNN chào nghiệp vụ hoán đổi USD/VND để cung ứng VND theo kỳ hạn, theo cấu trúc mua USD giao ngay và bán USD theo kỳ hạn. Theo cơ chế này, tổ chức tín dụng bán USD giao ngay để nhận VND tại ngày giá trị, sau đó mua lại đúng lượng USD khi đáo hạn và hoàn trả VND tương ứng. Việc tham gia nghiệp vụ hoán đổi gắn với nguồn USD và hạn mức giao dịch của từng tổ chức, khác với kênh OMO vốn dựa trên giấy tờ có giá đủ chuẩn để cầm cố.
Ngày 04/02/2026, NHNN chào hoán đổi USD/VND kỳ hạn 21 ngày với tỷ giá giao ngay 23.864 VND/USD và tỷ giá kỳ hạn 23.882 VND/USD. Ngày giá trị là 05/02/2026, ngày đáo hạn là 26/02/2026, hạn mức tối đa 1 tỷ USD. Nếu sử dụng hết hạn mức, lượng VND tại ngày giá trị tương ứng khoảng 23.864 tỷ đồng; đến ngày đáo hạn, các ngân hàng mua lại đúng số USD đã bán theo tỷ giá 23.882 VND/USD và hoàn trả lượng VND tương ứng.
Chi phí vốn VND trong nghiệp vụ hoán đổi thể hiện qua chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay, kết hợp mặt bằng lãi suất USD, theo quan hệ điểm kỳ hạn – chênh lệch lãi suất. Với chênh lệch 18 VND/USD cho 21 ngày, phần bù kỳ hạn tương đương khoảng 1,3%/năm; với lãi suất USD ngắn hạn cùng thời điểm dao động quanh 3,6–3,8%/năm, chi phí vốn VND ngầm định của khoản VND kỳ hạn 21 ngày vào khoảng 4,9–5,1%/năm, đặt cạnh mức 4,5%/năm trên OMO và mặt bằng lãi suất liên ngân hàng hai chữ số trong ngày 03/02/2026.
Trong phiên ngày 04/02 sau đó, số dư tiền gửi thanh toán VND tại NHNN được ghi nhận tăng lên trên 400 nghìn tỷ đồng; lãi suất qua đêm lùi về quanh 10%/năm, trong khi lãi suất cầm cố trên OMO duy trì 4,5%/năm.
Trường Thanh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức đầu tư
Bình luận
0 Bình luận