Mục tiêu xuất khẩu 550 tỷ USD năm 2026 đang mở ra kỳ vọng lớn cho kinh tế Việt Nam. Nhưng phía sau tham vọng này là một ‘nút thắt’ ít được nhắc tới: năng lượng.

Việt Nam đang tiến gần một cột mốc quan trọng trong lộ trình phát triển kinh tế khi Bộ Công Thương đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 550 tỷ USD, tương ứng mức tăng trưởng 15-16% so với năm 2025.
Tuy nhiên, phía sau con số đầy tham vọng này là một biến số mang tính quyết định nhưng chưa được nhìn nhận đúng mức: nguồn cung năng lượng. Bài toán đặt ra là làm thế nào để bảo đảm đủ điện và nhiên liệu, qua đó duy trì và củng cố động lực tăng trưởng xuất khẩu, tránh để năng lượng trở thành yếu tố giới hạn tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Phân tích sâu hơn về vấn đề này trong talkshow “Khủng hoảng nhiên liệu: 550 tỷ USD xuất khẩu sẽ đến từ đâu?" , TS. Nguyễn Minh Phong - Nguyên Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng kinh tế Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội - nhận định rằng Việt Nam hiện đã tiệm cận giới hạn của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Đây là giai đoạn mà các lợi thế truyền thống như thâm dụng lao động, khai thác tài nguyên và nguồn vốn giá rẻ đều đã đi tới giới hạn.
Trong bối cảnh đó, năng lượng nổi lên như yếu tố then chốt nhưng lại đối mặt với nhiều rào cản khắt khe. Khác với lao động hay tín dụng có thể điều chỉnh linh hoạt, năng lượng đang chạm tới “trần cứng”, thể hiện rõ ở cơ cấu phụ thuộc vào nguồn hóa thạch đã tới hạn. Điều này gây khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài quy mô lớn, vốn ưu tiên sử dụng năng lượng sạch để tái cấu trúc sản xuất.
Một điểm nghẽn đáng chú ý khác là hiệu suất sử dụng năng lượng còn thấp. Theo TS.Nguyễn Minh Phong, mức tiêu hao năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm của Việt Nam hiện cao gấp 1,5-2 lần so với các nước trong khu vực.
Điều này khiến lợi thế cạnh tranh về lợi nhuận của doanh nghiệp bị bào mòn. Với các ngành công nghiệp nhẹ - trụ cột xuất khẩu - chi phí năng lượng gia tăng không chỉ làm giảm lợi nhuận mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh xu hướng toàn cầu ngày càng ưu tiên hàng hóa được sản xuất bằng năng lượng sạch.

Về thực trạng cung ứng, mặc dù Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng công suất nguồn điện đứng đầu Đông Nam Á, nhưng khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế lại rất lớn.
Tổng công suất lắp đặt trên giấy tờ có thể đạt khoảng 80.000 MW, nhưng công suất sử dụng thực tế chỉ dao động từ 45.000 đến 48.000 MW.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, thực trạng này còn chịu thêm áp lực từ biến động khí hậu và giá dầu thế giới. Bên cạnh đó, tình trạng mất cân đối vùng miền đang tạo sức ép lớn lên hệ thống điện khi miền Nam dư thừa, đặc biệt là năng lượng tái tạo, trong khi miền Bắc lại đối mặt nguy cơ thiếu hụt; hệ thống truyền tải thường xuyên quá tải cục bộ.
Chi phí năng lượng cũng tác động trực tiếp đến “sức khỏe” doanh nghiệp. Phân tích cho thấy chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải từ 30-40%, thậm chí có ngành lên tới 60%.
Chỉ cần giá nhiên liệu tăng khoảng 5%, các doanh nghiệp dệt may, da giày - vốn có biên lợi nhuận tối đa khoảng 10% - sẽ ngay lập tức suy giảm động lực đầu tư.
Ở quy mô vĩ mô, biến động giá dầu có thể tạo áp lực lên lạm phát và tăng trưởng GDP, qua đó đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng thích ứng và củng cố năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, để bảo vệ mục tiêu xuất khẩu 550 tỷ USD, Việt Nam phải đối mặt với bài toán cân bằng giữa ổn định nguồn cung và kiểm soát chi phí.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, đảm bảo nguồn cung là điều kiện tiên quyết để duy trì sản xuất, nhưng nếu chi phí năng lượng quá cao sẽ làm suy yếu năng lực đầu tư của doanh nghiệp.
Do đó, giải pháp cốt lõi không chỉ dừng lại ở việc điều tiết giá mà phải là một cuộc cách mạng trong việc "xanh hóa" chuỗi cung ứng và toàn bộ nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu sẽ phải dựa trên nền tảng của một hệ thống năng lượng ổn định, bền vững và không bị gián đoạn.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-22 10:46
Bình luận
0 Bình luận