Theo đại diện S&P Ratings, nếu Việt Nam tiếp tục dồn áp lực tài trợ đầu tư lên hệ thống ngân hàng, quy mô tài sản có thể gia tăng nhưng hồ sơ rủi ro sẽ khó cải thiện.
Phát biểu tại Diễn đàn Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam 2026 do FiinRatings tổ chức, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings cho rằng, Việt Nam đang đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế đầy tham vọng, song thị trường vốn hiện nay vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu.

Dẫn số liệu, đại diện FiinRatings cho biết hệ số an toàn vốn (CAR) trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang dưới 11%, trong khi khoảng 90% tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho đầu tư ngày càng lớn, các ngân hàng buộc phải tăng vốn chủ sở hữu và vốn cấp hai, song dư địa vẫn hạn chế.
“Nếu tiếp tục sử dụng vốn ngắn hạn của ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu đầu tư dài hạn, rủi ro sẽ gia tăng và ảnh hưởng tới tính bền vững của nền kinh tế”, ông Thuân nhấn mạnh.
Theo tính toán của FiinRatings, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tương đương khoảng 40% GDP. Tuy nhiên, các nguồn vốn hiện tại chưa đáp ứng đủ, dẫn tới khoảng trống vốn dài hạn ước tính từ 20-30 tỷ USD mỗi năm.
Cùng quan điểm, ông Kim Eng Tan, Giám đốc Xếp hạng Tín nhiệm Quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương của S&P Global, nhận định trong nhóm các quốc gia có cùng mức thu nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam có quy mô lớn nhất. Tăng trưởng tín dụng nhanh trong nhiều năm khiến mức độ rủi ro của hệ thống bị đánh giá ở mức rất cao, lên tới 9/10.
“Nếu tiếp tục dồn áp lực tài trợ đầu tư lên ngân hàng, quy mô tài sản có thể tăng nhưng rủi ro không giảm. Việc mở rộng cho vay hay gia tăng tài sản thế chấp không giúp hệ thống an toàn hơn, mà còn làm trầm trọng thêm các rủi ro hiện hữu”, ông nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường TPDN không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết nhằm giải quyết khoảng trống vốn và giảm tải cho hệ thống ngân hàng.
Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường TPDN Việt Nam đã có nền tảng và ghi nhận nhiều thay đổi tích cực trong thời gian qua. Sau giai đoạn biến động, thị trường đã phục hồi đáng kể trong năm 2025, với tổng khối lượng phát hành riêng lẻ đạt 576 nghìn tỷ đồng, tăng 31,6% so với năm trước; phát hành ra công chúng đạt gần 52 nghìn tỷ đồng, tăng 36%.
Tỷ lệ chậm trả trái phiếu có xu hướng giảm, trong khi tính minh bạch của thị trường từng bước được cải thiện nhờ các điều chỉnh pháp lý, từ sửa đổi Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp đến các quy định về xếp hạng tín nhiệm và phát triển sản phẩm mới như trái phiếu dự án PPP hay quỹ đầu tư trái phiếu hạ tầng.
Tuy vậy, theo ông Nguyễn Quang Thuân, thị trường TPDN vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường trái phiếu nội tệ của Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,1%, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (21%), Malaysia (14%), Indonesia (14%) hay Trung Quốc (7%).
“Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài không chỉ bổ sung nguồn vốn mà còn tạo ra cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy thị trường phát triển theo chuẩn mực quốc tế”, ông Thuân nhận định, đồng thời kỳ vọng tỷ lệ này có thể tăng lên 10% trong những năm tới.
Theo ông Lê Hồng Khang, Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích FiinRatings, một vấn đề lớn khác là cấu trúc thị trường mất cân đối khi dòng vốn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực ngân hàng và bất động sản. Tỷ trọng phát hành của khu vực sản xuất và hạ tầng giảm mạnh, từ 42% năm 2019 xuống dưới 10% năm 2025.
Điều này khiến các doanh nghiệp sản xuất và hạ tầng khó tiếp cận kênh trái phiếu, buộc phải quay lại phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Ngoài ra, thanh khoản thị trường hiện chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn dưới 5 năm, đặc biệt là 1-3 năm, trong khi các dự án hạ tầng, năng lượng cần nguồn vốn dài hạn hơn. Việc thiếu sản phẩm kỳ hạn dài khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro tái cấp vốn.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chưa có hệ thống định giá chuẩn dựa trên kỳ hạn và chất lượng tín dụng. Điều này khiến chi phí vốn của doanh nghiệp ở mức cao, phổ biến 10-13%, trong khi doanh nghiệp cùng mức xếp hạng tín nhiệm tại Malaysia có thể huy động vốn kỳ hạn 10 năm với lãi suất chỉ hơn 8%.
Theo ông Lê Hồng Khang, để giải quyết các vấn đề mang tính cấu trúc, cần xây dựng hệ thống định giá chuẩn nhằm minh bạch hóa rủi ro và giảm chi phí vốn. Đồng thời, cần cải thiện thanh khoản, hạ tầng kỹ thuật thị trường và tạo điều kiện để các nhà đầu tư tổ chức lớn như doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội tham gia sâu hơn.
“Những giải pháp này không chỉ giúp thị trường đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% mỗi năm, hướng tới quy mô 25% GDP vào năm 2030, mà còn tạo nền tảng vững chắc để doanh nghiệp chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài”, đại diện FiinRatings nhấn mạnh.
Khúc Văn - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-04-03 09:25
Bình luận
0 Bình luận