Theo TS. Cấn Văn Lực, muốn tăng trưởng cao, Việt Nam cần huy động gần 1.500 tỷ USD giai đoạn 2026-2030, trong đó phần lớn từ khu vực tư nhân.
Muốn tăng trưởng cao, nhu cầu vốn cần gần 1.500 tỷ USD đến năm 2030
Phát biểu tại các phiên thảo luận về huy động, kết nối dòng vốn quốc tế và phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026 sáng 27/10, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia, cho rằng bài toán đặt ra với Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng không chỉ là thu hút vốn, mà còn phải kết nối đúng nguồn vốn với đúng cơ hội đầu tư, tạo động lực tăng trưởng thực chất.

Theo ông Lực, kinh nghiệm từ 5 quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cho thấy, trong thời kỳ tăng trưởng khoảng 10%/năm, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần duy trì ở mức 35-40% GDP, với tốc độ tăng vốn đầu tư hằng năm đạt 13-15%.
Từ thời kỳ Đổi mới đến nay, vốn đóng góp khoảng 45-50% vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong giai đoạn phát triển mới, dù hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) tăng lên, quy mô vốn đầu tư vẫn cần duy trì khoảng 40% GDP, đóng góp khoảng 40-42% cho tăng trưởng kinh tế.
Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao, từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần huy động khoảng 280-300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân khoảng 14%/năm. Tính chung giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của cả nước lên tới gần 1.500 tỷ USD.
Trong đó, ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20-22%, phần còn lại, tương đương 78%, cần huy động từ khu vực tư nhân trong nước và quốc tế. Điều này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của các kênh tài chính ngoài ngân sách trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Với TP.HCM, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước khoảng 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương 22% tổng nhu cầu vốn cả nước, phù hợp với tỷ trọng đóng góp khoảng 23,5% GDP toàn quốc của Thành phố.
Tương tự quy mô chung, ngân sách TP.HCM chỉ có thể đáp ứng khoảng 20-22% nhu cầu vốn, trong trường hợp cao nhất khoảng 30%. Phần còn lại phải dựa vào khu vực tư nhân. Hiện vốn tư nhân trong nước đóng góp khoảng 50% tổng vốn đầu tư tại Thành phố, thấp hơn mức bình quân cả nước khoảng 55%. Ngược lại, tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP.HCM đạt khoảng 21%, cao hơn mức bình quân cả nước là 17%.
Theo TS. Cấn Văn Lực, đây là cơ sở để Thành phố tiếp tục chú trọng thu hút vốn tư nhân trong nước và quốc tế, đồng thời đa dạng hóa các kênh dẫn vốn nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển.
Phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, thị trường vốn chưa phát huy hết vai trò
Một trong những vấn đề được TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh là sự mất cân đối trong cơ cấu huy động vốn của nền kinh tế. Hiện tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 51% tổng lượng vốn, trong khi kênh thị trường vốn, gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, mới đáp ứng khoảng 13-14% nhu cầu vốn.
Nếu tính thêm trái phiếu Chính phủ, với tỷ trọng khoảng 10%, tổng nguồn vốn huy động qua thị trường vốn cũng chỉ đạt khoảng 23%. Theo ông Lực, tỷ trọng này còn thấp so với nhu cầu của một nền kinh tế đang hướng tới tăng trưởng cao, đặc biệt với một đô thị có quy mô kinh tế lớn như TP.HCM.
Quy mô tín dụng so với GDP của Việt Nam hiện ở mức khoảng 144% và có thể lên tới 180% vào năm 2030 nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 15%/năm. Trong khi đó, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi trong hệ thống ngân hàng khoảng 2 triệu tỷ đồng, tạo thêm áp lực thanh khoản và khiến việc giảm lãi suất gặp nhiều khó khăn.
Thực trạng này cho thấy nền kinh tế cần phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện để dòng tiền được phân bổ hiệu quả hơn.
Việt Nam hiện có lợi thế từ nguồn tiết kiệm trong dân tương đối lớn. Trước năm 2026, tỷ lệ tiết kiệm trong dân ở mức khoảng 35% GDP, cao hơn tỷ lệ đầu tư thực tế khoảng 31% GDP, tương đương nguồn tiền nhàn rỗi khoảng 4% GDP. Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm đang có xu hướng thu hẹp và dự kiến giảm xuống khoảng 33% GDP trong năm 2026.
Theo TS. Cấn Văn Lực, khi nhu cầu vốn ngày càng lớn, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các dự án hạ tầng có thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài 10-20 năm. Thay vào đó, cần chủ động khai thác thêm các nguồn lực tài chính, phát triển thị trường vốn và mở rộng khả năng kết nối với dòng vốn quốc tế.
Bảy nguồn lực tài chính cần được khơi thông
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra 7 nhóm nguồn lực cần chú trọng khai thác.
Thứ nhất là phát triển tài chính xanh và tài chính quốc tế. Với lợi thế từ định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế, TP.HCM cần chuẩn hóa danh mục chương trình, dự án cụ thể để thu hút và giải ngân vốn thực tế, thay vì dừng lại ở các biên bản ghi nhớ.

Thứ hai là thúc đẩy thặng dư thương mại, đồng thời tăng cường các nguồn ngoại tệ từ du lịch, kiều hối và thu hút, giải ngân FDI. Đây là những nguồn lực có thể bổ sung cho khả năng huy động vốn của nền kinh tế.
Thứ ba là tận dụng cơ hội nâng hạng thị trường chứng khoán và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Theo ông Lực, việc nâng hạng thị trường chứng khoán từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi được kỳ vọng giúp Việt Nam thu hút thêm khoảng 7-9 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp. Cùng với đó, Việt Nam cần hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư (Investment Grade) trước năm 2030.
Thứ tư là đẩy nhanh triển khai Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng. Theo TS. Cấn Văn Lực, hai trung tâm này cần sớm vận hành với các cơ chế đặc thù, tạo điều kiện cho dòng vốn được chuyển đổi và luân chuyển thuận lợi, qua đó tăng khả năng kết nối Việt Nam với thị trường tài chính toàn cầu.
Thứ năm là phát triển thị trường tài sản số, tài sản mã hóa. Việt Nam hiện có khoảng 17-18 triệu người tham gia đầu tư tài sản số. Vì vậy, việc sớm hoàn thiện khung pháp lý để quản lý thị trường và thu hút nguồn lực này vào phát triển trong nước là vấn đề cần được chú trọng.
Thứ sáu là khai thác thị trường tín chỉ carbon, đặc biệt là tiềm năng mua bán tín chỉ carbon quốc tế gắn với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Thứ bảy là khơi thông nguồn lực từ các dự án tồn đọng, chống lãng phí và cải thiện vòng quay vốn của doanh nghiệp. Theo ông Lực, cả nước đang có khoảng 1.500 dự án gặp vướng mắc, trong đó TP.HCM cũng có số lượng dự án tồn đọng đáng kể. Việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý để đưa những dự án này trở lại hoạt động có thể góp phần giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh hoàn thuế cho doanh nghiệp để tăng tốc độ luân chuyển dòng tiền. Theo TS. Cấn Văn Lực, nền kinh tế có nhiều nguồn lực để huy động vốn hiệu quả, không chỉ dựa vào kênh tín dụng ngân hàng.
Với riêng TP.HCM, ông Lực nói thêm cần cơ cấu lại đầu tư công theo hướng cân đối hơn. Hiện khoảng 80% vốn đầu tư công của thành phố tập trung vào hạ tầng giao thông. Đây là lĩnh vực quan trọng, nhưng Thành phố cũng cần rà soát, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn cho khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục và văn hóa.
Đầu tư cho những lĩnh vực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng tăng trưởng dài hạn.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức đầu tư
Bình luận
0 Bình luận