TS Võ Trí Thành cho rằng thế giới đang bước vào một giai đoạn hoàn toàn khác: “Phân mảnh nhưng lợi ích lại nhằng nhịt với nhau”, buộc doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách phải thay đổi tư duy tồn tại và thích ứng.
“Thế giới đang sống trong trạng thái phân mảnh”
Nêu quan điểm, TS Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, cho hay chưa bao giờ các yếu tố chính trị, địa chính trị, an ninh, công nghệ và kinh tế lại đan xen chặt chẽ như hiện nay.
“Ngày xưa nói thị trường là nói cung cầu, giá cả, cạnh tranh. Nhưng bây giờ nói thị trường mà quên chính trị, quên địa chính trị là không được”, ông nhấn mạnh.
TS. Võ Trí Thành cho rằng đặc trưng lớn nhất của giai đoạn hiện nay là sự phân mảnh trên nhiều cấp độ: Địa chính trị, kinh tế, tài chính và công nghệ. Sự cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày càng gay gắt, kéo theo những chia tách về chuỗi cung ứng, công nghệ, hệ thống thanh toán quốc tế và các liên minh thương mại.
Ông dẫn ví dụ về hệ thống thanh toán SWIFT, các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga hay xu hướng dựng hàng rào thương mại ở nhiều nền kinh tế lớn như những biểu hiện rõ nét của quá trình “phân mảnh thế giới”.
Tuy nhiên, điều đáng nói là dù phân mảnh, các nền kinh tế vẫn phụ thuộc lợi ích lẫn nhau. “Đó là một thế giới rất nhằng nhịt. Vừa cạnh tranh, vừa phụ thuộc, vừa đối đầu nhưng vẫn phải hợp tác”.
Theo TS. Võ Trí Thành, thế giới hiện tồn tại song song hai xu hướng trái chiều. Một bên là chủ nghĩa đơn phương, bảo hộ thương mại và sự suy yếu của các thể chế đa phương như WTO và Liên Hợp Quốc (UN).
Nhưng ở chiều ngược lại, quá trình tự do hóa thương mại vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, các FTA giữa Việt Nam với Israel, UAE hay các đàm phán mở rộng liên kết thương mại mới.
“Chúng ta phải sống cùng lúc với cả hai thế giới đó. Không thể chọn bên này rồi bỏ bên kia”, ông Thành nhấn mạnh.
Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại buộc phải đa dạng hóa thị trường, mở rộng đối tác và xây dựng khả năng thích ứng cao hơn trước những cú sốc bất định.
“Những đặc trưng này không phải chuyện ngắn hạn. Có thể chúng ta sẽ còn phải sống với trạng thái ấy thêm 10-15 năm nữa”, ông nhận định.

Từ kỳ vọng phục hồi sang lo ngại mới vì chiến sự Trung Đông
TS. Võ Trí Thành cho biết đầu năm 2026, nhiều tổ chức quốc tế từng có cái nhìn lạc quan hơn về triển vọng kinh tế toàn cầu.
IMF từng nâng dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới từ 3,2% lên 3,3%; lạm phát được kỳ vọng giảm dần và thị trường còn chờ đợi Fed tiếp tục hạ lãi suất. Tuy nhiên, chỉ sau vài tháng, bức tranh đã thay đổi mạnh bởi xung đột leo thang tại Trung Đông.
Theo ông Thành, cuộc chiến này tạo ra nhiều tác động tiêu cực hơn tích cực, đặc biệt nếu xung đột kéo dài và giá dầu tăng mạnh. Ông phân tích, tùy theo kịch bản chiến sự và mức giá dầu, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể giảm từ 0,2 - 0,5 điểm phần trăm.
“Nếu kinh tế toàn cầu chỉ giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm thôi thì cũng là con số cực lớn, bởi GDP toàn cầu hiện khoảng 90.000 tỷ USD”, ông nói.
Riêng khu vực châu Á - Thái Bình Dương, mức độ tổn thương còn lớn hơn do phụ thuộc mạnh vào logistics và năng lượng từ Trung Đông. Theo TS. Võ Trí Thành, tăng trưởng của khu vực có thể giảm từ 0,4 - 1,3 điểm phần trăm tùy kịch bản.
Áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất sẽ quay trở lại
Một trong những hệ quả lớn nhất của xung đột Trung Đông là nguy cơ lạm phát quay trở lại. TS. Võ Trí Thành cho rằng giá dầu tác động lên nền kinh tế qua ba lớp.
Thứ nhất là tác động trực tiếp tới CPI. Tại Việt Nam, nhóm nhiên liệu chiếm khoảng 4% rổ tính CPI. Thứ hai là tác động lên chi phí vận tải và logistics – lĩnh vực chiếm khoảng 10% rổ CPI. Thứ ba là hiệu ứng lan tỏa dây chuyền khi chi phí vận chuyển tăng sẽ kéo theo giá thành hàng hóa và dịch vụ leo thang.
Ông cảnh báo, nếu lạm phát toàn cầu nóng trở lại, FED có thể giảm lãi suất ít hơn kỳ vọng, khiến áp lực tỷ giá và lãi suất tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam gia tăng.
“Dư địa để chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng sẽ hẹp hơn rất nhiều”, ông nói.
Trong bối cảnh nợ công toàn cầu đã tiến sát ngưỡng 100% GDP, dư địa tài khóa của nhiều quốc gia cũng ngày càng hạn chế. Theo TS. Võ Trí Thành, Việt Nam hiện vẫn có lợi thế khi nợ công ở mức khoảng 36% GDP, tạo điều kiện để đẩy mạnh đầu tư công nhằm duy trì tăng trưởng trong vài năm tới.
TS. Võ Trí Thành nhận định các tác động từ xung đột Trung Đông sẽ lan tới doanh nghiệp Việt Nam theo cả hướng trực tiếp lẫn gián tiếp. Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp gồm dầu khí, logistics, hàng không, du lịch và một số ngành phụ thuộc nguyên liệu đầu vào như phân bón.
Trong khi đó, tác động gián tiếp nguy hiểm hơn đến từ sự suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
“Khi thu nhập của các đối tác giảm thì nhu cầu tiêu dùng giảm, mà cầu giảm thì xuất khẩu cũng giảm theo”, ông phân tích.
Ngoài ra, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất - kinh doanh, làm gia tăng chi phí vốn và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Minh Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-05-10 15:34
Bình luận
0 Bình luận