Kinh nghiệm Singapore cho thấy giải thể doanh nghiệp có thể tạo “cánh cửa ra” cho bên thất bại, giúp rời thị trường có trật tự mà không xóa bỏ trách nhiệm.

Giải thể doanh nghiệp: Vì sao rời thị trường có thể khó hơn nhiều so với lúc gia nhập?
Dư luận gần đây chú ý đến trường hợp một doanh nghiệp ngừng hoạt động từ năm 2013 nhưng phải chi gần 100 triệu đồng để hoàn tất thủ tục giải thể.
Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao khi mở doanh nghiệp, chi phí chỉ là vài triệu đồng, nhưng khi doanh nghiệp giải thể lại tốn kém hơn rất nhiều lần?
Câu chuyện cho thấy nghịch lý: mở doanh nghiệp có thể chỉ tốn vài triệu đồng, nhưng khi muốn rời thị trường, doanh nghiệp có thể phải mất nhiều thời gian và chi phí để xử lý các nghĩa vụ còn tồn đọng.
Đóng cửa, trả mặt bằng hay không còn doanh thu không đồng nghĩa pháp nhân tự động chấm dứt. Sau nhiều năm ngừng hoạt động, sổ sách, chứng từ và bộ máy nhân sự có thể không còn, khiến việc xử lý các tồn đọng càng khó khăn. Đáng chú ý, khoản tiền gần 100 triệu đồng nói trên không phải toàn bộ là tiền phạt thuế, mà gồm nhiều khoản như thuế còn thiếu, tiền chậm nộp, xử phạt hành chính, lệ phí giải thể và chi phí hoàn thiện sổ sách.
Theo bài báo chia sẻ với báo Tuổi trẻ mới đây, GS.TS Vũ Minh Khương - Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore cho rằng tình trạng doanh nghiệp muốn giải thể nhưng gặp vướng mắc với các khoản nợ thuế, tiền phạt cần được nhìn nhận là sơ suất từ cả hai phía.
Theo ông, về phía cơ quan quản lý, hệ thống chưa có cơ chế theo dõi, nhắc nhở doanh nghiệp đầy đủ, dẫn đến trường hợp doanh nghiệp nợ thuế kéo dài hàng chục năm nhưng không được nhắc nhở, xử lý kịp thời.
Trong khi đó, doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Tại Singapore, theo GS.TS Vũ Minh Khương, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo hằng năm, bất kể tình hình kinh doanh ra sao. Báo cáo có mẫu sẵn và doanh nghiệp dù đang hoạt động hiệu quả, hoạt động không hiệu quả hay tạm thời “ngủ quên” vẫn phải thực hiện.
Ông nhấn mạnh, hoạt động không hiệu quả không đồng nghĩa với việc được bỏ qua nghĩa vụ tài chính. Đối với nợ thuế, doanh nghiệp phải sòng phẳng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khoản phạt chậm nộp tại Singapore có thể được cơ quan thuế xem xét miễn, giảm theo những điều kiện nhất định.
Chính cách tiếp cận này tạo ra sự khác biệt quan trọng: hệ thống quản lý cần phân biệt giữa trường hợp cố tình vi phạm với trường hợp sơ suất, thay vì xử lý mọi trường hợp theo cùng một cách.

Singapore tạo những “cánh cửa ra” cho doanh nghiệp thất bại
Một ví dụ đáng chú ý đến từ Singapore. Cách đây 5 năm, Bộ Tư pháp nước này xây dựng Chương trình phá sản giản lược dành cho những công ty nhỏ không còn khả năng tồn tại, ban đầu dự kiến chỉ áp dụng trong thời gian dịch bệnh. Chương trình sau đó được gia hạn ba lần và đến đầu năm 2026 đã được đưa vào luật, trở thành một phần cố định của hạ tầng pháp lý.
Mục tiêu của chương trình là giúp những doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại được đóng lại một cách có trật tự.
Theo cách mô tả từ các quy định này, Singapore xây dựng ba lối ra tương ứng với các mức độ thất bại khác nhau, bao gồm:
- Cánh cửa đầu tiên dành cho những công ty không còn nợ ai. Với những pháp nhân đã ngừng hoạt động, không còn khả năng kinh doanh, Singapore có thủ tục xóa tên khỏi sổ đăng ký hoàn toàn miễn phí. Cơ quan đăng ký đăng thông báo trên Công báo, chờ hai tháng để chủ nợ hoặc người có quyền lợi liên quan lên tiếng. Nếu không có phản đối, doanh nghiệp được xóa tên. Toàn bộ quá trình kéo dài khoảng 4-6 tháng.
Đáng chú ý, cơ quan đăng ký còn có quyền chủ động xóa tên một công ty khi có cơ sở cho rằng công ty không còn hoạt động kinh doanh. Điều này có nghĩa Nhà nước không nhất thiết phải chờ chủ doanh nghiệp quay lại làm thủ tục mà có thể dựa trên dữ liệu để xử lý những pháp nhân không còn hoạt động.
- Cánh cửa thứ hai dành cho những công ty có nợ nhưng quy mô nợ nhỏ. Đây là nội dung của chương trình phá sản giản lược vừa được đưa thành quy định lâu dài. Điều kiện là tổng nợ không quá 2 triệu SGD. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tái cấu trúc nợ nếu còn khả năng cứu vãn hoặc thanh lý có trật tự nếu không thể tiếp tục.
Trong giai đoạn thử nghiệm từ năm 2021, thủ tục thanh lý giản lược mất trung bình 9 tháng, trong khi thủ tục thông thường kéo dài từ 3-4 năm.
- Cánh cửa thứ ba dành cho cá nhân phá sản. Luật Singapore không tự động xóa tình trạng phá sản, nhưng người phá sản lần đầu thường được xóa sau 3-7 năm nếu đóng góp đủ phần đã cam kết cho chủ nợ. Trong thời gian này, pháp luật vẫn miễn trừ khỏi tài sản phá sản một số tài sản cần thiết để người đó tiếp tục lao động, trong đó có công cụ hành nghề, đồ dùng gia đình và căn hộ thuộc hệ thống nhà ở công cộng nếu đáp ứng điều kiện về chủ sở hữu.
Với người có khoản nợ dưới 150.000 SGD, còn có một lối để tránh phá sản bằng cách trả nợ theo kế hoạch tối đa 5 năm dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước.
Điểm đáng chú ý trong cách thiết kế này là Singapore không đồng nhất sự bao dung với việc xóa bỏ trách nhiệm. Hệ thống mở đường cho người thất bại nhưng đồng thời có cơ chế ngăn chặn hành vi lạm dụng.
Chẳng hạn, một giám đốc có ba công ty bị xóa tên trong vòng 5 năm sẽ tự động bị cấm làm giám đốc trong 5 năm tiếp theo. Một công ty đã sử dụng cơ chế tái cấu trúc nợ thì trong 60 tháng không được sử dụng lại. Việc xóa tình trạng phá sản cũng có thể bị tòa từ chối nếu người đó từng phạm tội liên quan đến phá sản.
Như vậy, cửa ra được mở rộng cho người thất bại, nhưng thu hẹp đối với những trường hợp thất bại lặp lại theo cùng một kiểu và nghiêm khắc với hành vi lạm dụng.

Không phải xóa nợ, mà là giảm chi phí của thất bại
Cũng theo bài báo do Tuổi trẻ thực hiện, GS.TS Vũ Minh Khương cho rằng bài học quan trọng từ Singapore nằm ở cách thiết kế hệ thống quản lý. Theo ông, mở doanh nghiệp dễ nhưng phải đi cùng tính trung thực và trách nhiệm. Người thành lập doanh nghiệp phải thực sự muốn kinh doanh, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo trong suốt quá trình hoạt động.
Ông cho rằng việc tạo điều kiện để doanh nghiệp đóng cửa không đồng nghĩa với xóa nợ. Một doanh nghiệp muốn rời thị trường vẫn phải giải quyết đầy đủ nghĩa vụ còn lại, đặc biệt là nghĩa vụ thuế.
Tuy nhiên, hệ thống cũng cần đủ khả năng nhận diện những trường hợp sơ suất để có cách xử lý phù hợp. Ông gọi đây là công thức “90 + 9 + 1” của Singapore, trong đó 90% là những trường hợp cơ bản chấp hành, 9% là sơ suất và 1% là cố ý vi phạm, lạm dụng.
Cách nhìn này hướng tới việc tạo dựng niềm tin giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Người thực hiện tốt được khuyến khích, người sơ suất được tạo điều kiện khắc phục, trong khi hành vi cố tình vi phạm và lạm dụng bị xử lý nghiêm.
Điều đó cũng đặt ra một vấn đề rộng hơn đối với Việt Nam. Sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Từ chỗ doanh nghiệp tư nhân không tồn tại trong hệ thống pháp luật, Việt Nam hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động chính thức và 5 triệu hộ kinh doanh. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, tạo ra phần lớn việc làm và đã xuất hiện những tập đoàn lớn vươn tầm khu vực, thế giới.
Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hành trình này cũng gắn chặt với những bước cải cách thể chế. Năm 1990, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân lần đầu tiên ghi nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Đến Luật Doanh nghiệp năm 1999, quan niệm về quyền kinh doanh tiếp tục thay đổi mạnh mẽ, từ chỗ là quyền được Nhà nước cho phép sang quyền tự do kinh doanh của người dân.
Chỉ trong ba năm đầu thực hiện Luật Doanh nghiệp, từ năm 2000 đến năm 2002, khoảng 55.000 doanh nghiệp mới được thành lập, lớn hơn tổng số doanh nghiệp ra đời trong 9 năm trước đó. Hàng trăm loại “giấy phép con” cũng được bãi bỏ.
Tuy nhiên, cải cách không diễn ra theo đường thẳng. Sau giai đoạn tiến bộ, nhiều rào cản kinh doanh cũ phục hồi, rào cản mới xuất hiện. Giai đoạn 2015-2019 chứng kiến một đợt cải cách mạnh mẽ trở lại, nhưng đại dịch Covid-19 làm chậm quá trình này. Tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, né tránh trong bộ máy quản lý cũng trở thành một vấn đề, khiến thể chế được đánh giá là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Trong bối cảnh đó, câu chuyện doanh nghiệp “chết lâm sàng” nhiều năm nhưng vẫn khó hoàn tất thủ tục rời thị trường trở thành một ví dụ cụ thể về điểm nghẽn thể chế còn tồn tại.
Một môi trường kinh doanh lành mạnh không thể được xây dựng bằng cách xóa bỏ nghĩa vụ hay bỏ qua vi phạm. Nhưng yêu cầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm và tạo ra một cơ chế khả thi để họ xử lý dứt điểm các tồn tại trước khi rời thị trường là hai việc hoàn toàn có thể song hành.
Singapore cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: giảm chi phí và thời gian của thất bại, nhưng không xóa bỏ trách nhiệm. Với doanh nghiệp thực sự muốn làm ăn, việc gia nhập thị trường cần thuận lợi; khi mô hình không hiệu quả, việc chủ động rời đi cũng cần có một lối ra rõ ràng, có trật tự.
Một môi trường kinh doanh thông thoáng không chỉ được đo bằng việc thành lập doanh nghiệp nhanh đến đâu, mà còn bằng việc doanh nghiệp có thể rời thị trường một cách minh bạch, hợp pháp và khả thi đến mức nào.
Theo ông Khương, việc đóng doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn nếu doanh nghiệp hoạt động thực chất, khi nhận thấy mô hình không hiệu quả thì chủ động đóng và giải quyết đầy đủ các nghĩa vụ còn lại.
"Việc đóng doanh nghiệp sẽ rất dễ dàng nếu doanh nghiệp thành thực. Khi thấy mình làm không hiệu quả thì cần đóng ngay và phải sòng phẳng chuyện đóng thuế. Cần tránh việc mở doanh nghiệp nhưng hoạt động lay lắt, đình trệ", ông Khương nhận định.
Mai Anh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức đầu tư
Bình luận
0 Bình luận