
Tồn kho lập đỉnh, vòng quay đảo chiều
Quý I năm nay ghi nhận một diễn biến đáng chú ý tại nhóm doanh nghiệp xăng dầu lớn. Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV OIL) và CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) cùng tăng mạnh quy mô hàng tồn kho cuối kỳ. Tuy nhiên, tốc độ luân chuyển hàng hóa của cả ba doanh nghiệp đều giảm so với quý IV/2025.
Diễn biến này cho thấy quy mô tồn kho tăng chưa đi cùng tốc độ luân chuyển hàng hóa. Trong quý I, hàng tồn kho bình quân của Petrolimex, PV OIL và BSR tăng nhanh hơn giá vốn hàng bán, khiến vòng quay hàng tồn kho chậm lại và số ngày lưu kho kéo dài.
BCTC quý I cho thấy quy mô tồn kho của nhóm xăng dầu đã tăng lên mức cao. Petrolimex ghi nhận hàng tồn kho thuần sau dự phòng gần 30.000 tỷ đồng tại ngày 31/3, tăng gần 16.000 tỷ đồng so với đầu năm. Giá gốc hàng tồn kho vượt 36.000 tỷ đồng, đi kèm khoản dự phòng giảm giá khoảng 6.500 tỷ đồng.
PV OIL có hàng tồn kho khoảng 11.000 tỷ đồng, gấp khoảng 4 lần đầu năm. BSR ghi nhận tồn kho hơn 21.500 tỷ đồng, tăng gần 9.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025.
Cùng với quy mô tồn kho tăng, vòng quay hàng tồn kho của Petrolimex giảm từ 5,1 vòng trong quý IV/2025 xuống 3,78 vòng trong quý I. PV OIL giảm từ 13,12 vòng xuống 6,11 vòng. BSR giảm từ 2,75 vòng xuống 2,12 vòng.

Ở chiều ngược lại, số ngày tồn kho bình quân của Petrolimex tăng từ 18,04 ngày lên 23,81 ngày. PV OIL tăng từ 7,01 ngày lên 14,73 ngày. BSR tăng từ 33,45 ngày lên 42,45 ngày.
Diễn biến này cho thấy lượng hàng tại ba doanh nghiệp không chỉ tăng về giá trị cuối kỳ, mà còn lưu lại lâu hơn trong kho, trên đường vận chuyển hoặc trong chuỗi sản xuất – phân phối. Với ngành xăng dầu, nơi giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu, việc vòng quay chậm lại đồng nghĩa lượng vốn nằm trong hàng tồn kho tăng lên.
Từ phân phối đến lọc dầu: Cách Petrolimex, PV OIL và BSR tăng tồn kho
Petrolimex là mắt xích phân phối lớn trong hệ thống xăng dầu. Quy mô tồn kho của doanh nghiệp này gắn với mạng lưới bán lẻ rộng, vai trò đầu mối và yêu cầu duy trì nguồn cung trên thị trường.
Năm 2025, tổng nguồn xăng dầu cho tiêu thụ nội địa đạt khoảng 28,6 triệu m³/tấn. Sản lượng tiêu thụ đạt khoảng 26,4 triệu m³/tấn, bình quân 2,2 triệu m³/tấn mỗi tháng. Lượng tồn kho duy trì khoảng 1,7 triệu m³/tấn. Sang năm nay, Bộ Công Thương phân giao tổng nguồn xăng dầu tối thiểu gần 31,8 triệu m³/tấn, bình quân 2,65 triệu m³/tấn mỗi tháng.
Riêng Petrolimex được phân giao tổng lượng xăng dầu 11,939 triệu m³/tấn trong năm 2025. Sau điều chỉnh, doanh nghiệp ước thực hiện 11,2 triệu tấn, tương đương 105% tổng nguồn tối thiểu được giao.
Trong quý I, doanh nghiệp ghi nhận giá vốn hàng bán khoảng 94.997 tỷ đồng, hàng tồn kho bình quân theo giá gốc khoảng 25.149 tỷ đồng và số ngày tồn kho bình quân 23,81 ngày.
PV OIL có đặc thù thương mại và phân phối, nên tốc độ luân chuyển hàng hóa thường nhanh hơn Petrolimex và BSR. Tuy nhiên, quý I ghi nhận mức giảm vòng quay lớn nhất trong ba doanh nghiệp. Hàng tồn kho cuối kỳ tăng từ khoảng 2.793 tỷ đồng cuối năm 2025 lên khoảng 11.192 tỷ đồng, trong khi giá vốn hàng bán đạt khoảng 42.691 tỷ đồng, thấp hơn nhẹ so với quý IV/2025. Diễn biến hàng tồn kho tăng mạnh trong khi giá vốn không tăng tương ứng khiến số ngày tồn kho bình quân của PV OIL tăng lên 14,73 ngày.
BSR có cấu trúc khác hai doanh nghiệp phân phối. Doanh nghiệp vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, nên hàng tồn kho không chỉ gồm thành phẩm, mà còn bao gồm dầu thô, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và các khoản hàng phục vụ quá trình vận hành nhà máy.
Trong quý I, BSR ghi nhận giá vốn hàng bán khoảng 36.413 tỷ đồng và hàng tồn kho bình quân khoảng 17.186 tỷ đồng. Số ngày tồn kho bình quân tăng lên 42,45 ngày, cao nhất trong nhóm. Mức tồn kho dài ngày này gắn với đặc thù lọc dầu, khi doanh nghiệp phải duy trì dầu thô, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm để phục vụ vận hành nhà máy trong bối cảnh nguồn cung quốc tế biến động.
Trong chuỗi xăng dầu, Petrolimex và PV OIL chịu áp lực lớn hơn ở khâu phân phối, còn BSR chịu thêm yêu cầu bảo đảm nguyên liệu cho lọc dầu. Dù khác vị trí, cả ba doanh nghiệp đều bước vào quý I với lượng hàng bình quân lớn hơn và thời gian lưu kho dài hơn so với quý trước.
Hơn 23.000 tỷ đồng hàng đi đường và áp lực vốn lưu động
Trong cơ cấu tồn kho quý I, điểm đáng chú ý là hàng mua đang đi đường tăng mạnh tại cả ba doanh nghiệp. Điều này cho thấy một phần đáng kể lượng hàng đã được đưa vào sổ sách, nhưng vẫn còn trên hành trình vận chuyển trước khi về kho hoặc đi vào hệ thống phân phối.
Với BSR, hàng mua đang đi đường tăng từ gần 3.800 tỷ đồng đầu năm lên hơn 9.100 tỷ đồng cuối quý I, chiếm hơn 40% tổng giá trị hàng tồn kho. Với Petrolimex, hàng đang đi đường tăng từ gần 1.500 tỷ đồng lên hơn 10.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 28% tổng tồn kho. Với PV OIL, khoản mục này tăng lên hơn 4.100 tỷ đồng, chiếm gần 37% tổng giá trị tồn kho.
Tính chung, ba doanh nghiệp có hơn 23.000 tỷ đồng hàng mua đang đi đường tại cuối quý I. Điều này cho thấy một phần đáng kể tồn kho vẫn còn trên hành trình vận chuyển, chưa hoàn toàn về kho hoặc đi vào hệ thống phân phối. Với mặt hàng xăng dầu, quãng thời gian này kéo theo thêm chi phí vận tải, bảo hiểm, phụ phí nhập khẩu và rủi ro biến động giá thế giới.
Bối cảnh quốc tế làm khoản mục hàng đi đường trở nên nhạy cảm hơn. Cơ quan Năng lượng Quốc tế ghi nhận gần 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu mỗi ngày được xuất khẩu qua eo biển Hormuz trong năm 2025.
Các tuyến thay thế qua Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có công suất khả dụng khoảng 3,5–5,5 triệu thùng/ngày. Hormuz cũng là tuyến xuất khẩu chủ yếu của nhiều nước sản xuất dầu vùng Vịnh, trong đó có Kuwait.
Áp lực giá và phụ phí đã thể hiện rõ trong hoạt động của Petrolimex. Tháng 3, giá xăng thành phẩm RON95 bình quân đạt 137 USD/thùng, có thời điểm lên 170 USD/thùng. Giá dầu DO 50ppm bình quân đạt 192 USD/thùng, có lúc lên 292 USD/thùng.
Cùng thời điểm, hoạt động nhập khẩu của một số đầu mối chịu sức ép từ giá nhiên liệu và phụ phí tăng cao. Sản lượng xuất bán tháng 3 của Petrolimex đạt 1,134 triệu m³/tấn, tăng 13% so với tháng 2 và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2025. Doanh nghiệp cũng phải mua nguồn giao ngay với phụ phí 35–40 USD/thùng đối với dầu diesel và 12–15 USD/thùng đối với xăng, cao hơn mức thông thường 2,5–3 USD/thùng.
Lượng tồn kho lớn giúp các doanh nghiệp đầu mối có thêm dư địa đáp ứng nhu cầu thị trường trong bối cảnh nguồn cung quốc tế biến động. Tuy nhiên, phần hàng hóa có giá trị lớn cũng làm tăng nhu cầu vốn lưu động và khiến rủi ro dự phòng giảm giá trở nên đáng chú ý hơn nếu giá xăng dầu đảo chiều.
Petrolimex là ví dụ rõ nhất cho áp lực này. Tại cuối quý I, giá gốc hàng tồn kho của doanh nghiệp vượt 36.000 tỷ đồng, nhưng giá trị thuần sau dự phòng còn gần 30.000 tỷ đồng. Chênh lệch khoảng 6.500 tỷ đồng cho thấy dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trở thành một khoản mục đáng kể trong bức tranh tài chính quý I.
Trong bối cảnh tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm nay được phân giao gần 31,8 triệu m³/tấn, bình quân 2,65 triệu m³/tấn mỗi tháng, tồn kho cao tại Petrolimex, PV OIL và BSR phản ánh nhu cầu chuẩn bị nguồn hàng lớn hơn của các đầu mối. Đi cùng với đó là nhu cầu vốn lưu động cao hơn và áp lực chi phí rõ hơn trên BCTC, khi thị trường xăng dầu thế giới còn nhiều biến động.
Trường Thanh - nguoiquansat.vn
Theo Kiến thức Đầu tư
Bình luận
0 Bình luận