Tài chính ngân hàng

VinaCapital: Nâng hạng tín nhiệm có thể mở khóa chu kỳ vốn mới cho hệ thống ngân hàng

Theo VinaCapital, việc tiến lên ngưỡng xếp hạng Đầu tư có thể kích hoạt chuỗi truyền dẫn từ định giá rủi ro quốc gia sang đường cong lợi suất, chi phí vốn và kỳ hạn vốn ngân hàng. Báo cáo nhấn mạnh hai bộ đệm mang tính quyết định: dự trữ ngoại hối và vốn tự có ngân hàng.

Tín hiệu BBB- và bài toán bộ đệm còn thiếu

Khi Việt Nam tiến gần ngưỡng xếp hạng Đầu tư (investment grade), thị trường có thể điều chỉnh lại cách định giá rủi ro quốc gia theo hướng tích cực. Sự thay đổi này thường lan tỏa đồng thời qua ba kênh then chốt của hệ thống tài chính – ngân hàng.

Phần bù rủi ro có xu hướng giảm, lợi suất tham chiếu hạ nhiệt và điều kiện thanh khoản đối ngoại cải thiện khi dòng vốn tăng lên và củng cố bộ đệm ngoại hối. Cùng lúc, hệ thống ngân hàng mở rộng khả năng huy động vốn dài hạn nhờ tiếp cận nhóm nhà đầu tư tổ chức chịu ràng buộc bởi tiêu chí xếp hạng tín nhiệm.

Báo cáo cũng phân biệt rõ phản ứng ngắn hạn với tác động mang tính chu kỳ. “Chu kỳ vốn mới” không chỉ là một nhịp định giá lại nhất thời, mà là trạng thái thị trường duy trì mặt bằng chi phí vốn thấp hơn và kỳ hạn vốn dài hơn trong thời gian đủ dài để tạo thay đổi cấu trúc.

Screenshot 2026-02-03 090747
Nâng hạng tín nhiệm tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh lên vốn, FDI và thị trường tài chính. Nguồn: VinaCapital tổng hợp từ IMF, World Bank, Bloomberg, CEIC, Maybank.

Chính phủ đặt mục tiêu đạt xếp hạng Đầu tư vào năm 2030. Tuy vậy, theo đánh giá của VinaCapital, khả năng nâng hạng sớm hơn vẫn hiện hữu thông qua các tín hiệu trung gian. Đầu năm 2026, Fitch đã nâng một công cụ nợ dài hạn có bảo đảm liên quan đến Việt Nam lên BBB- – nhóm Đầu tư – trong khi vẫn giữ xếp hạng ngoại tệ dài hạn của nợ không bảo đảm ở mức BB+.

Diễn biến này cho thấy nhà đầu tư đã chấp nhận mức rủi ro thấp hơn với một số cấu trúc nợ gắn với Việt Nam, dù hồ sơ tín nhiệm tổng thể vẫn cần thêm bộ đệm.

Ở nhóm chỉ tiêu nợ, Việt Nam được đánh giá có nền tảng tương đối thuận lợi. Tổng nợ công được ước tính quanh 35% GDP, nợ nước ngoài khoảng 33% GDP, thấp hơn nhiều nền kinh tế mới nổi trong khu vực đã đạt investment grade.

Cơ cấu nợ nước ngoài cũng phân bổ khá cân bằng giữa khu vực công và khu vực tư nhân, qua đó giảm áp lực dồn nghĩa vụ trả nợ ngoại tệ lên ngân sách khi điều kiện bên ngoài biến động. Với hệ thống tài chính lấy trái phiếu Chính phủ làm đường cong lợi suất tham chiếu, nền tảng nợ ổn định là tiền đề để chi phí vốn được định giá theo hướng “mềm” hơn.

1.png
Việt Nam đang ở đâu trong tương quan tài khóa – nợ công – dự trữ ngoại hối khu vực ASEAN?. Nguồn: Tổng hợp từ Moody’s, S&P, Fitch và các cơ quan thống kê quốc gia; xử lý và tính toán của VinaCapital.

Ở chiều ngược lại, hai bộ đệm còn mỏng được chỉ ra là dự trữ ngoại hối và vốn tự có của hệ thống ngân hàng. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm trong hai năm gần đây và hiện thấp hơn ngưỡng tương đương ba tháng nhập khẩu – mức tham chiếu thường được các tổ chức xếp hạng sử dụng để đánh giá an toàn thanh khoản đối ngoại.

Trường hợp Pakistan giai đoạn 2018–2023 được dẫn ra như một minh họa về rủi ro khi dự trữ ngoại hối suy giảm mạnh trong lúc nghĩa vụ đối ngoại vẫn lớn. Với một nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong cung ứng tín dụng và ngoại tệ, bộ đệm ngoại hối mỏng sẽ thu hẹp dư địa can thiệp thị trường và làm chi phí phòng thủ tỷ giá tăng lên khi xuất hiện cú sốc.

Screenshot 2026-02-03 090802
Chi phí nợ và chi phí vốn của Việt Nam cao hơn mặt bằng khu vực. Nguồn: VinaCapital tổng hợp.

Ở khu vực ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn bình quân toàn hệ thống được ước tính khoảng 12,5% vào cuối năm 2024, trong khi tổng tài sản ngân hàng đã xấp xỉ gần hai lần GDP. Một số ngân hàng trụ cột chỉ nhỉnh hơn ngưỡng tối thiểu không nhiều trong bối cảnh tín dụng tăng cao và hệ thống tiếp tục triển khai các chuẩn Basel II và III. Fitch lưu ý rằng việc mở rộng tín dụng nhanh trên nền vốn tự có mỏng có thể làm rủi ro gia tăng, đặc biệt khi quy mô bảng cân đối đã vượt GDP danh nghĩa.

Từ những điểm này, báo cáo xác định điều kiện then chốt để tiến gần investment grade một cách bền vững nằm ở việc củng cố đồng thời hai bộ đệm: nâng dự trữ ngoại hối và bổ sung vốn cho hệ thống ngân hàng. Khi hai yếu tố này được cải thiện, chi phí vốn của Chính phủ có thể giảm ổn định hơn và thị trường có cơ sở hình thành đường cong lợi suất tham chiếu thấp hơn cho toàn hệ thống tài chính.

Khi phần bù rủi ro hạ, ngân hàng đổi cuộc chơi

Khi phần bù rủi ro quốc gia giảm, lợi suất trái phiếu Chính phủ thường đi xuống và chênh lệch tín dụng thu hẹp. Tổng hợp dữ liệu lịch sử tại các nền kinh tế lần đầu đạt ngưỡng Đầu tư cho thấy phần bù rủi ro cho vay giảm trung bình khoảng 119 điểm cơ bản trong giai đoạn hai năm trước và hai năm sau thời điểm nâng hạng. Trong cùng giai đoạn, FDI và dự trữ ngoại hối tại các quốc gia này cũng tăng mạnh, qua đó cải thiện điều kiện thanh khoản đối ngoại.

Áp dụng khung truyền dẫn này vào Việt Nam, chi phí vay của Chính phủ được ước tính có thể giảm khoảng 150 điểm cơ bản khi đạt investment grade, nhờ lợi suất trái phiếu Chính phủ hạ và chênh lệch tín dụng co lại. Khi đường cong lợi suất VND dịch chuyển xuống, mặt bằng lãi suất tham chiếu trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn thường đi theo. Điều này tạo thêm dư địa để ngân hàng hạ dần giá vốn và điều chỉnh lãi suất trung – dài hạn theo hướng ổn định hơn, giảm tính “giật cục” của chu kỳ lãi suất.

Lợi ích mang tính cấu trúc nằm ở kỳ hạn nguồn vốn. Khi rủi ro quốc gia giảm, ngân hàng có thể tiếp cận rộng hơn nhóm nhà đầu tư tổ chức gắn tiêu chí đầu tư với xếp hạng tín nhiệm, gồm quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư quốc gia và một bộ phận quỹ trái phiếu toàn cầu. Khi các nhà đầu tư này tăng tỷ trọng nắm giữ tài sản bằng VND, ngân hàng có cơ hội kéo dài kỳ hạn huy động trên thị trường vốn và giảm phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn dễ đảo chiều. Kỳ hạn vốn dài hơn giúp bảng cân đối giảm áp lực chênh lệch kỳ hạn và phù hợp hơn với nhu cầu tài trợ các dự án hạ tầng, năng lượng và logistics có vòng đời vốn dài.

Kênh vốn cũng gắn chặt với kênh ngoại hối. Dòng vốn gián tiếp thường đi cùng dòng vốn trực tiếp, qua đó hỗ trợ dự trữ ngoại hối. Khi bộ đệm này được cải thiện, Ngân hàng Nhà nước có thêm dư địa ổn định tỷ giá và giảm nhu cầu điều chỉnh lãi suất với biên độ lớn mỗi khi xuất hiện cú sốc bên ngoài. Môi trường tỷ giá – lãi suất ổn định hơn giúp ngân hàng vận hành tín dụng theo hướng bền vững và hạn chế việc thay đổi điều kiện cho vay đột ngột.

Báo cáo cũng đưa ra cảnh báo về rủi ro đảo chiều. Trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ từng được nâng lên BBB- rồi quay lại nhóm rủi ro cao sau giai đoạn tín dụng tăng nhanh, kỷ luật tài khóa suy yếu và dự trữ ngoại hối giảm cho thấy investment grade không phải một “danh hiệu cố định”. Ngưỡng Đầu tư gắn liền với kỷ luật chính sách và chất lượng bảng cân đối của hệ thống tài chính.

Để kéo dài chu kỳ vốn sau nâng hạng, ba trụ cột được nhấn mạnh gồm bộ đệm an toàn tài chính, khả năng dự báo của chính sách – pháp lý và chuẩn minh bạch dữ liệu. Trọng tâm trước hết là đưa dự trữ ngoại hối trở lại trên ngưỡng ba tháng nhập khẩu và hướng tới mức cao hơn, đồng thời bổ sung vốn tự có cho hệ thống ngân hàng, chuẩn hóa phương pháp tính tài sản theo trọng số rủi ro, nâng chuẩn cho vay và xử lý nợ xấu. Fitch cảnh báo rủi ro có thể bộc lộ rõ hơn nếu tín dụng tiếp tục tăng cao trong khi CAR còn thấp, nhất là khi tổng tài sản ngân hàng đã ở mức gần hai lần GDP.

Ở khía cạnh thể chế, môi trường chính sách cần ổn định, có thể dự báo và vận hành hiệu quả cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Tiến trình cải cách xoay quanh Nghị quyết 66 được xem là một bước đi nhằm xây dựng khung pháp luật theo nguyên tắc pháp quyền, xử lý chồng chéo và nâng mức độ tuân thủ. Khi chính sách rõ ràng và nhất quán, nhà đầu tư có xu hướng kéo dài kỳ hạn đầu tư và chấp nhận phần bù rủi ro thấp hơn, qua đó hỗ trợ mục tiêu giảm chi phí vốn của hệ thống tài chính – ngân hàng.

Về dữ liệu, báo cáo đề xuất mở rộng công bố đối với nợ tư nhân ngắn hạn, vị thế ngoại hối kỳ hạn, nghĩa vụ nợ tiềm ẩn của doanh nghiệp nhà nước và các dự án PPP, đồng thời chuẩn hóa các chỉ tiêu chất lượng tài sản ngân hàng như nợ xấu và nợ cơ cấu.

Khi thông tin thiếu hụt, các tổ chức xếp hạng thường áp dụng giả định thận trọng hơn và đẩy phần bù rủi ro lên cao. Việc hoàn thiện khuôn khổ dữ liệu, theo đánh giá của VinaCapital, sẽ giúp thu hẹp khoảng trống thông tin và hỗ trợ quá trình định lượng rủi ro rõ ràng hơn.

Trường Thanh - nguoiquansat.vn

Theo Kiến thức đầu tư